Mỗi viên nang cứng Celecoxib 200mg chứa:
Thành phần dược chất: Celecoxib: 200 mg
Thành phần tá dược: Lactose monohydrat, natri lauryl sulfat, PVP K30, croscarmellose sodium, magnesi stearat, vỏ nang số 1
Thuốc Celecoxib 200 là sản phẩm của Dược Éloge France Việt Nam, có thành phần chính là Celecoxib có tác dụng kháng viêm, giảm đau trong các trường hợp: Viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp ở người lớn. Giảm đau hậu phẫu cấp tính và đau bụng kinh.
| Số đăng ký | 893110369524 |
| Quy cách | Hộp 3 vỉ x 10 viên |
| Hoạt chất chính | Celecoxib 200mg |
| Dạng bào chế | Viên nang cứng |
| Nhà sản xuất | Éloge France Việt Nam |
| Đối tượng sử dụng | Người lớn |
| Nước sản xuất | Việt Nam |
| Hạn sử dụng | 36 tháng kể từ ngày sản xuất. |
Mỗi viên nang cứng Celecoxib 200mg chứa:
Thành phần dược chất: Celecoxib: 200 mg
Thành phần tá dược: Lactose monohydrat, natri lauryl sulfat, PVP K30, croscarmellose sodium, magnesi stearat, vỏ nang số 1
DẠNG BÀO CHẾ:
Viên nang cứng số 1, màu trắng – vàng (đối với viên nang cứng Celecoxib 200mg), bên trong chứa bột thuốc màu trắng đến trắng ngà.
CHỈ ĐỊNH:
– Điều trị các triệu chứng thoái hóa khớp (OA) và viêm khớp dạng thấp (RA).
– Giảm nhẹ các dấu hiệu và triệu chứng của viên khớp tự phát thiếu nên (JIA) ở bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên cân nặng tối thiểu 10 kg.
– Giảm nhẹ các dấu hiệu và triệu chứng của viêm cột sống dính khớp.
– Kiểm soát đau cấp tính.
– Điều trị thống kinh nguyên phát.
LIỀU DÙNG, CÁCH DÙNG:
Viên nang celecoxib, với liều dùng đến 200 mg x 2 lần /ngày có thể dùng cùng thức ăn hoặc không.
Do các nguy cơ tim mạch của celecoxib có thể tăng theo liều và thời gian dùng thuốc, nên dùng liều thấp nhất trong thời gian có thể. Người lớn:
Điều trị triệu chứng trong thoái hóa khớp (OA): liều khuyến nghị của celecoxib là 200 mg dùng liều đơn hoặc 100 mg 2 lần mỗi ngày. Điều trị triệu chứng viêm khớp dạng thấp (RA): Liều khuyến nghị của celecoxib là 100 mg hoặc 200 mg 2 lần mỗi ngày.
Viêm cột sống dính khớp (AS): Liều dùng khuyến nghị của celecoxib là 200 mg dùng liều dùng đơn hoặc 100 mg 2 lần mỗi ngày. Một số bệnh nhân có thể tốt hơn nếu dùng tổng liều mỗi ngày là 400 mg.
Kiểm soát đau cấp tính: Liều khởi đầu theo khuyến cáo của celecoxib là 400 mg, dùng thêm một liều 200 mg trong ngày đầu tiên nếu cần thiết. Trong các ngày tiếp theo, liều khuyến nghị là 200 mg 2 lần mỗi ngày khi cần.
Đau bụng kinh nguyên phát: Liều khởi đầu theo khuyến cáo của celecoxib là 400 mg, dùng thêm một liều 200 mg trong ngày đầu tiên nếu cần thiết. Trong các ngày tiếp theo, liều khuyến nghị là 200 mg 2 lần mỗi ngày khi cần.
Những người chuyển hóa kém CYP2C9: Những bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ chuyển hóa kém qua CYP2C9 dựa trên tiền sử/ kinh nghiệm với các chất khác của CYP2C9 cần thận trọng khi dùng celecoxib. Bắt đầu điều trị với liều bằng % liều khuyến nghị thấp nhất.
Người cao tuổi:
Nhìn chung không phải điều chỉnh liều. Tuy nhiên, với các bệnh nhân cao tuổi có cân nặng dưới 50 kg, nên bắt đầu điều trị với liều khuyến nghị thấp nhất.
Trẻ em:
Viêm khớp tự phát thiếu niên (JIA)
| Bệnh nhân nhi 2 tuổi trở lên | Liều lượng |
| ≥ 10 kg đến ≤ 25 kg | Viên nang 50mg, hai lần mỗi ngày |
| > 25kg | Viên nang 100mg, hai lần mỗi ngày |
Celecoxib đã được nghiên cứu ở các bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên từ 2 đến 17 tuổi. Tính an toàn và hiệu quả của celecoxib ở trẻ em chưa được nghiên cứu trong thời gian trên 6 tháng hoặc ở bệnh nhân có cân nặng dưới 10 kg (22JBS) hoặc bệnh nhân với biểu hiện phát bệnh toàn thân
Cách dùng:
Với bệnh nhân khó nuốt viên nang, có thể cho lượng thuốc trong viên vào nước sinh tố táo, cháo, sữa chua hoặc chuối nghiền nát để uống cùng. Khi đó, phải cho toàn bộ lượng thuốc vào khoảng một thìa nhỏ nước sinh tố cháo, sữa chua hoặc chuối nghiền nát ở nhiệt độ phòng và phải uống ngay với nước. Lượng thuốc đã trộn với nước sinh tố táo, cháo hoặc sữa chua ổn định trong khoảng 6 giờ khi bảo quản trong tủ lạnh (2 – 8°C/ 35°F – 45°F). Không được bảo quản trong tủ lạnh lượng thuốc đã trộn với chuối nghiền nát và phải uống ngay.
Suy gan: Không cần thiết điều chỉnh liều với các bệnh suy gan nhẹ. Dùng celecoxib theo nửa liều khuyến nghị cho các bệnh nhân viêm khớp hoặc bị đau bụng trong suy gan vừa.
Chưa có các nghiên cứu trên các bệnh suy gan nặng.
Suy thận: Chưa được nghiên cứu và không khuyến cáo dùng cho người suy thận. Nếu cần thiết phải sử dụng celecoxib cho người suy thận nặng, phải giám sát cẩn thận chức năng thận. Nhà sản xuất không có khuyến cáo đặc biệt nào về điều chỉnh liều cho người suy thận mạn.
Dùng kết hợp với Fuconazol: Nên dùng celecoxib với nửa liều khuyến nghị trên những bệnh nhân đang điều trị với fuconazol, một chất ức chế CYP2C9. Cần thận trọng
CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
Celecoxib chống chỉ định với:
– Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với Celecoxib hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
– Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với sulfonamide.
– Bệnh nhân có tiền sử hen, mề đay hoặc có các phản ứng kiểu dị ứng sau khi dùng acid acetylsalicylic hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác, bao gồm các thuốc ức chế đặc hiệu cyclooxygenase–2 (COX-2) khác.
– Điều trị đau trong phẫu thuật ghép động mạch vành nhân tạo.
THẬN TRỌNG VÀ CẢNH BÁO KHI DÙNG THUỐC:
Tác dụng trên tim mạch:
Huyết khối tim mạch: Celecoxib có thể gây tăng những nguy cơ huyết khối tim mạch nghiêm trọng, nhồi máu cơ tim và đột quỵ, là những biểu hiện có thể gây tử vong. Tất cả các NSAID có thể có chung nguy cơ này. Nguy cơ này có thể tăng theo liều dùng, thời gian dùng và các yếu tố nguy cơ tim mạch của bản thân. Bệnh nhân với tiền sử bệnh tim mạch có thể có nguy cơ cao hơn. Để giảm thiểu nguy cơ có thể xảy ra tác dụng không mong muốn trên tim mạch ở bệnh nhân điều trị với celecoxib, nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể. Thầy thuốc và bệnh nhân cần cảnh giác với sự tiến triển của các biến cố này, ngay cả khi không có các triệu chứng về tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được thông báo về các dấu hiệu và triệu chứng của các độc tính nghiêm trọng trên tim mạch và các bước xử lý khi chúng xảy ra.
Hai thử nghiệm lâm sàng lớn, có đối chứng cho thấy có sự tăng tỷ lệ nhồi máu cơ tim và đột quỵ khi sử dụng một NSAID khác tác động chọn lọc trên COX-2 để điều trị đau 10 – 14 ngày đầu sau khi phẫu thuật ghép mạch động mạch vành nhân tạo (CABG). Celecoxib không phải là chất thay thế cho acetyl salicylic trong dự phòng các bệnh tắc nghẽn huyết khối tim mạch do thiếu tác động trên chức năng tiểu cầu. Bởi vì celecoxib không ức chế kết tập tiểu cầu, do đó không nên ngừng các trị liệu kháng tiểu cầu (ví dụ acid acetylsalicylic) khi đang dùng celecoxib.
Tăng huyết áp: Cũng như tất cả các NSAID khác, celecoxib có thể làm khởi phát các cơn tăng huyết áp hoặc làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp vốn có, cả hai yếu tố này đều có thể làm tăng nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch. Cần thận trọng khi dùng các NSAID, kể cả celecoxib trên bệnh nhân tăng huyết áp. Cần theo dõi huyết áp chặt chẽ khi bắt đầu điều trị với celecoxib cũng như trong suốt thời gian điều trị.
Ứ dịch và phù: Cũng như các thuốc có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, phù nề và ứ dịch đã được quan sát trên một số bệnh nhân đang dùng celecoxib. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ các bệnh nhân bị suy tim sung huyết hoặc tăng huyết áp từ trước. Nên thận trọng khi dùng celecoxib trên bệnh nhân đã bị tổn thương chức năng tim, phù hoặc các tình trạng khác có thể bị trầm trọng hơn do ứ dịch và phù nề, bao gồm những bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc có nguy cơ giảm thể tích máu.
Tác dụng trên đường tiêu hóa:
Thủng, loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa trên và dưới đã xảy ra với các bệnh nhân dùng celecoxib. Những bệnh nhân có nguy cơ gặp phải những biến chứng đường tiêu hóa này khi dùng các thuốc NSAID hầu hết là người cao tuổi, bệnh nhân bị bệnh tim mạch, bệnh nhân đang dùng aspirin, các glucocorticoid, hoặc các NSAID khác, bệnh nhân sử dụng rượu hoặc bệnh nhân có tiền sử hoặc đang bị các bệnh đường tiêu hóa tiến triển như loét, các tình trạng chảy máu hoặc viêm đường tiêu hóa. Hầu hết các báo cáo ngẫu nhiên về trường hợp tử vong do biến chứng đường tiêu hóa liên quan đến celecoxib xảy ra trên người cao tuổi hoặc bệnh nhân có thể chất yếu.
Tác dụng trên thận:
Các NSAID bao gồm celecoxib có thể gây độc cho thận. Các thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra celecoxib có tác dụng trên thận tương tự các NSAID khác. Bệnh nhân có nguy cơ nhiễm độc thận cao nhất là người suy giảm chức năng thận, suy tim, suy chức năng gan và người cao tuổi. Cần theo dõi cần thận cho các bệnh nhân này khi điều trị bằng celecoxib. Cần thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân mất nước. Trước tiên cần bù nước cho bệnh nhân rồi mới bắt đầu điều trị bằng celecoxib.
Bệnh thận tiến triển:
Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận ở bệnh nhân bị bệnh thận tiến triển điều trị bằng celecoxib.
Phản ứng dạng phản vệ:
Cũng như các NSAID nói chung, các phản ứng dạng phản vệ có thể xảy ra ở các bệnh nhân dùng celecoxib.
Các phản ứng nghiêm trọng trên da:
Các phản ứng nghiêm trọng trên da, một số có thể dẫn đến tử vong, bao gồm viêm da tróc vẩy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc, đã được báo cáo nhưng rất hiếm gặp trong việc sử dụng celecoxib. Bệnh nhân thường có nguy cơ cao với các biến cố này trong giai đoạn sớm của quá trình điều trị, hầu hết các trường hợp này xảy ra chủ yếu trong tháng điều trị đầu tiên. Cần ngưng dùng celecoxib ngay khi xuất hiện mẫn đỏ da, tổn thương niêm mạc hoặc bất kỳ dấu hiệu quá mẫn nào.
Tác dụng trên gan:
Chưa có nghiên cứu trên các bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh nhóm C). Không sử dụng celecoxib trên bệnh nhân suy gan nặng. Cần thận trọng khi sử dụng celecoxib trên bệnh nhân suy gan vừa (Child–Pugh nhóm B) và nên bắt đầu với liều bằng nửa liều khuyến cáo.
Rất ít các phản ứng nghiêm trọng trên gan, bao gồm viêm gan bùng phát (một số trường hợp dẫn đến tử vong), hoại tử gan và suy gan (một số trường hợp gây tử vong và cần ghép gan) đã được báo cáo khi sử dụng celecoxib. Bệnh nhân có các triệu chứng và/hoặc dấu hiệu của suy gan và người có xét nghiệm chức năng gan bất thường cần được theo dõi chặt chẽ về các dấu hiệu tiến triển trầm trọng các phản ứng trên gan trong quá trình điều trị với celecoxib.
Sử dụng với các thuốc chống đông máu đường uống:
Việc sử dụng đồng thời các NSAID với các thuốc chống đông máu đường uống làm tăng nguy cơ chảy máu và cần thận trọng khi sử dụng. Các thuốc chống đông máu đường uống bao gồm nhóm warfarin/coumarin và các thuốc chống đông máu đường uống mới (như apixapan, dabigatran và rivaroxaban). Đã có báo cáo về trường hợp chảy máu nghiêm trọng trên các bệnh nhân dùng đồng thời warfarin và các chất tương tự, trong đó có một số trường hợp gây tử vong. Do đã có báo cáo về tăng thời gian prothrombin (INR), vẫn theo dõi tác dụng chống đông/ thời gian prothrombin ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông máu nhóm warfarin/coumarin sau khi bắt đầu điều trị cùng với celecoxib hoặc hiệu chỉnh liều của các thuốc này.
Viêm khớp tự phát thiếu niên khởi phát toàn thân:
Cần thận trọng khi dùng các thuốc NSAID bao gồm celecoxib ở bệnh nhân bị viêm khớp tự phát thiếu niên khởi phát toàn thân, do nguy cơ đông máu nội mạch lan tỏa. Bệnh nhân bị viêm khớp thiếu niên khởi phát toàn thân khi dùng celecoxib phải được theo dõi xem có phát triển các xét nghiệm đông máu thất thường hay không.
Tổng quan:
Với tác dụng chống viêm, celecoxib có thể làm mờ các dấu hiệu chuẩn đoán, ví dụ như triệu chứng sốt trong chuẩn đoán nhiễm trùng. Cần tránh dùng đồng thời celecoxib với các thuốc NSAID không phải aspirin.
Ức chế CYP 2D6:
Celecoxib là chất ức chế CYP2D6 ở mức độ vừa. Đối với các thuốc được chuyển hóa qua CYP2D6, cần phải giảm liều của các thuốc này khi bắt đầu sử dụng cùng với celecoxib hoặc tăng liều của thuốc này khi dừng sử dụng celecoxib. Thuốc có chứa lactose monohydrat, chính vì vậy với những bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp như không dung nạp với galactose, thiếu men tiêu hóa lactose (Lapp lactase) hoặc mắc hội chứng rối loạn hấp thu glucose–galactose không nên dùng thuốc này
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ:
Khả năng sinh sản
Dựa trên cơ chế tác dụng của thuốc, việc sử dụng NSAID, kể cả celecoxib, có thể gây trì hoãn hoặc ngăn cản rụng trứng, dẫn đến hiện tượng vô sinh có hồi phục ở một số phụ nữ. Những phụ nữ khó thụ thai hay đang điều trị vô sinh cần cân nhắc việc ngưng dùng các NSAID, bao gồm cả celecoxib.
Phụ nữ có thai:
Không có nghiên cứu trên phụ nữ có thai. Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy có độc tính trên sinh sản. Chưa có dữ liệu tương đương trên người.
Celecoxib cũng như các thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin khác, có thể gây vô lực cơ tử cung và đóng sớm ống động mạch chủ, nên tránh sử dụng celecoxib trong quý 3 của thai kỳ.
Chỉ nên dùng celecoxib khi mang thai khi lợi ích tiềm tàng với người mẹ vượt trội nguy cơ tiềm tàng đối với thai nhi.
Ức chế tổng hợp prostaglandin có thể gây ảnh hưởng bất lợi cho phụ nữ mang thai. Dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy việc tăng nguy cơ sảy thai tự phát sau khi dùng thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin trong giai đoạn sớm của thai kỳ. Trên động vật, việc sử dụng thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin làm tăng nguy cơ sảy thai ở giai đoạn trước và sau khi phôi làm tổ.
Phụ nữ cho con bú:
Các nghiên cứu trên chuột cống cho thấy celecoxib được bài tiết qua sữa với nồng độ tương đương với nồng độ trong huyết tương. Ở phụ nữ cho con bú dùng celecoxib, rất ít celecoxib được chuyển vào trong sữa. Vì những tác động không mong muốn tiềm tàng của celecoxib trên trẻ đang bú mẹ, tùy thuộc vào mong muốn của thuốc đối với người mẹ, nên cân nhắc ngừng thuốc hay ngừng cho con bú.
ẢNH HƯỞNG LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC:
Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của celecoxib trên khả năng lái xe và vận hành máy móc, nhưng dựa trên các đặc tính dược lực học và mô tả tổng quát về tính an toàn của thuốc, có thể coi là thuốc không ảnh hưởng.
TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ KHI DÙNG THUỐC:
Tương tác thuốc:
Tổng quan:
Celecoxib chủ yếu chuyển hóa qua cytocrom P450 (CYP) 2C9 tại gan. Cần thận trọng khi dùng celecoxib trên bệnh nhân đã hoặc nghi ngờ chuyển hóa kém qua CYP 2C9 dựa trên tiền sử với cơ chất của CYP 2C9 khác vì các bệnh nhân này có thể có nồng độ celecoxib trong huyết tương cao hơn bình thường do giảm độ thanh thải chuyển hóa. Nên bắt đầu điều trị với liều bằng một nửa liều khuyến cáo thấp nhất.
Việc dùng đồng thời celecoxib với các chất ức chế CYP2C9 làm tăng nồng độ celecoxib trong huyết tương. Do đó cần phải giảm liều celecoxib khi dùng đồng thời với chất ức chế CYP 2C9. Việc dùng đồng thời celecoxib với những chất cảm ứng CYP 2AC9 như rifampicin, carbamazepin và barbiturat làm giảm nồng độ celecoxib trong huyết tương. Do đó, cần phải tăng liều celecoxib khi dùng đồng thời với những chất cảm ứng CYP 2C9. Nghiên cứu dược động học lâm sàng và nghiên cứu in vitro cho thấy mặc dù celecoxib không phải là cơ chất nhưng lại ức chế CYP2D6. Do đó có thể có tương tác thuốc in vitro với các thuốc được chuyển hóa bởi CYP2D6.
Với các thuốc cụ thể:
Tương tác giữa celecoxib và warfarin và các thuốc tương tự:
Lithium: Ở các đối tượng khỏe mạnh nồng độ lithiun trong huyết tương tăng khoảng 17% khi dùng đồng thời lithium và celecoxib. Cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân đang điều trị bằng lithium khi bắt đầu hoặc ngưng sử dụng đồng thời với celecoxib.
Aspirin: Celecoxib không ảnh hưởng đến tác dụng kháng tiểu cầu của aspirin liều thấp. Vì không có tác dụng trên tiểu cầu, celecoxib không phải là chất thay thể cho aspirin trong điều trị dự phòng bệnh tim mạch.
Các thuốc chống tăng huyết áp bao gồm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) và chất đối kháng angiotensin II (được biết đến là chất ức chế thụ thể angiotensin, ARB), các thuốc lợi tiểu và các thuốc chẹn thụ thể beta: Việc ức chế prostaglandin có thể làm giảm tác dụng chống tăng huyết áp chủa chất ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) và/hoặc thuốc đối kháng angiotensin II, các thuốc lợi tiểu và các thuốc chẹn beta. Cần lưu ý các tương tác này khi dùng đồng thời celecoxib và thuốc ức chế men chuyển angiotensin ACEI và/hoặc các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II, các thuốc lợi tiểu và các thuốc chẹn thụ thể beta.
Ở các bệnh nhân cao tuổi, người bị giảm thể dịch (kể cả đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc bị tổn thương chức năng thận), việc dùng đồng thời NSAID, bao gồm những thuốc ức chế chọn lọc COX–2, với thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI), thuốc đối kháng angiotensin II hoặc các thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến tổn hại chức năng thận bao gồm cả suy thận cấp tính. Các tác dụng này thường là có thể phục hồi. Do đó, cần thận trọng khi sử dụng đồng thời celecoxib với thuốc này. Bệnh nhân cần được bù đủ thể dịch và theo dõi chức năng thận khi bắt đầu phác đồ sử dụng phối hợp cũng như kiểm soát định kỳ sau đó.
Kết quả từ nghiên cứu lisinoptil: Trong các nghiên cứu lâm sàng kéo dài 28 ngày trên các bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn I và II đối chứng bằng lisinopril, việc sử dụng celecoxib 200 mg 2 lần/ngày không làm tăng huyết áp tâm thu và tâm trương khi so sánh với nhóm chứng sử dụng giả dược trong quá trình kiểm soát huyết áp 24 giờ. Trong nhóm bệnh nhân sử dụng đồng thời với celecoxib 200 mg ngày 2 lần, 48% số bệnh nhân không đáp ứng với lisinopril trong lần thăm khám cuối cùng (nghĩa là huyết áp tâm trương lớn hơn 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng hơn 10% so với thời điểm ban đầu), đối với nhóm sử dụng giả dược con số này là 27%. Sự khác biệt này có ý nghĩ về mặt thống kê.
Cyclosporin: Vì các NSAID có tác dụng trên các protaglandin ở thận, các thuốc này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm độc thận do cyclosporin.
Fluconazol và ketoconazol: Dùng đồng thời fluconazol liều 200 mg, 1 lần/ngày làm tăng gấp đôi nồng độ celecoxib trong huyết tương do fluconazol có tác động ức chế men chuyển hóa celecoxib CYP P450 2C9. Nên bắt đầu sử dụng celecoxib với liều bằng nửa liều khuyến nghị trên các bệnh nhân đang dùng thuốc có tác dụng ức chế CYP2C9 như fluconazol, không có tác dụng ức chế chuyển hóa celecoxib đáng kể trên lâm sàng.
Dextromethorphan và metoprolol: Việc sử dụng đồng thời celecoxib 200 mg ngày 2 lần làm tăng lần lượt 2,6 lần và 11,5 lần nồng độ của dextromethorphan và metoprolol trong huyết tương (các cơ chất của CYP2D6). Điều này là do celecoxib ức chế chuyển hóa của các cơ chất của CYP2D6. Do đó, cần phải giảm liều các thuốc là cơ chất của CYP2D6 khi bắt đầu sử dụng celecoxib đồng thời và cần phải tăng liều các thuốc này khi ngưng sử dụng celecoxib.
Thuốc lợi tiểu: Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng trên một số bệnh nhân, NSAID có thể làm giảm tác dụng tăng thải natri qua nước tiểu của furosemid và thiazid bằng cách ức chế tổng hợp prostaglandin ở thận.
Các thuốc tránh thai đường uống: Trong các nghiên cứu tương tác, celecoxib không có tác dụng rõ ràng trên lâm sàng với dược động học của thuốc tránh thai đường uống loại kết hợp (1 mg norethindron/0,035 mg ethinyl estradiol).
Các thuốc khác: Chưa có báo cáo tương tác quan trọng nào về mặt lâm sàng giữa celecoxib và thuốc kháng acid (nhôm và magie), omeprazol, glibenclamid (glyburid), phenytoin và tolbutamid.
Tương ki:
Chưa có các nghiên cứu về tính tương kị thuốc, do vậy không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:
Thử nghiệm lâm sàng:
Các tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR) trong bảng 1 dưới đây được xác định với tỷ lệ lớn hơn 0,01% trong nhóm sử dụng celecoxib và cao hơn so với nhóm sử dụng giả dược trong 12 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược và/hoặc với thuốc thật trong tối đa 12 tuần điều trị, với liều dùng hàng ngày từ 100 mg đến 800 mg ở người lớn. Tần suất của các tác dụng không mong muốn trong bảng 1 được cập nhật dựa trên khảo sát gần đây của 98 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng của 38.102 bệnh nhân sử dụng celecoxib. Tần suất của các tác dụng không mong muốn này được định nghĩa như sau: rất thường gặp (> 10%), thường gặp (> 1% và < 10%), không thường gặp (> 0,1% và < 1%), hiếm gặp (> 0,015 và < 0,1%) và rất hiếm gặp (< 0,01%). Các tác dụng không mong muốn ở bảng 1 được liệt kê theo hệ cơ quan và xếp theo thứ tự giảm dần theo tần suất.
| Bảng 1: Tác dụng không mong muốn của thuốc từ 12 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược và /hoặc với hoạt chất và tần suất các tác dụng không mong muốn từ 89 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng liên quan đến sự đau và viêm với liều hàng ngày từ 25mg – 800mg ở đối tượng người lớn | |
|
Hệ cơ quan Tần suất |
Tác dụng không mong muốn |
| Nhiễm trùng, nhiếm ký sinh trùng | |
| Thường gặp | Viêm phế quản, viêm xoang, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nhiễm khuẩn đường tiết niệu |
| Không thường gặp | Viêm họng, viêm mũi |
| Rối loạn hệ miễn dịch | |
| Không thường gặp | Quá mẫn |
| Rối loạn tâm thần | |
| Thường gặp | Chóng mặt |
| Không thường gặp | Tăng cường lực cơ, buồn ngủ |
| Hiếm gặp | Trạng thái lú lẫn |
| Rối loạn hệ thần kinh | |
| Thường gặp | Chóng mặt |
| Không thường gặp | Tăng cường lực cơ, buồn ngủ |
| Rối loạn mắt | |
| Không thường gặp | Nhìn mờ |
| Rối loạn tai và tai trong |
|
| Không thường gặp | Ù tai |
| Rối loạn tim | |
| Không thường gặp | Tim đập nhanh |
| Hiếm gặp | Suy tim sung huyết, loạn nhịp, nhịp tim nhanh |
| Rối loạn mạch | |
| Thường gặp | Tăng huyết áp bao gồm tăng huyết áp tiến triển |
| Hiếm gặp | đỏ mặt |
| Rối loạn hô hấp, vùng ngực và trung thất | |
| Thường gặp | Ho |
| Rối loạn tiêu hoá | |
| Thường gặp | Nôn, đau bụng, tiêu chảy, khó tiêu, đầy bụng |
| Không thường gặp | Loét dạ dày, các vấn đề về răng |
| Hiếm gặp | Loét tá tràng, loét thực quản |
| Rất hiếm gắp | Thủng ruột, viêm ruột |
| Rối loạn gan mật | |
| Không thường gặp | Tăng men gan (bao gồm tăng enzym alanin aminotransferase và aspartat amino transferase) |
|
Rối loạn da và mô dưới da |
|
| Thường gặp | Ngứa (bao gồm ngứa toàn thân), phát ban |
| Không thường gặp | Mề đay, bầm máu |
| Hiếm gặp | Phù mạch, rụng tóc |
| Rất hiếm gặp | Viêm da, bọng nước |
| Rối loạn toàn thâm và tại chỗ dùng thuốc | |
| Thường gặp | Phù ngoại biên |
| Không thường gặp | Phù mặt, bệnh giả cúm |
| Tổn thương, nhiễm độc và tình trạng do thủ thuật gây ra | |
| Không thường gặp | Tổn thương |
Các tác dụng không mong muốn của thuốc* thêm vào trong bảng 2 dưới đây được xác định với tỷ lệ lớn hơn giả dược trong nghiên cứu phòng ngừa polyp kéo dài tối đa 3 năm với liều hàng ngày từ 400 mg đến 800 mg. Các tần suất của tác dụng không mong muốn trong bảng 2 được quyết định dựa trên những nghiên cứu phòng polyp trong thời gian dài và được định nghĩa như sau: rất thường gặp (≥ 10%), thường gặp (> 1% và < 10%), không thường gặp (> 0,1% và < 1%). Các tác dụng không mong muốn trong bảng 2 được liệt kê theo hệ cơ quan và xếp theo thứ tự giảm dần theo tần suất.
| Bảng 2: Các tác dụng không mong muốn trong các nghiên cứu phòng ngừa polyp trong thời gian tối đa 3 năm với liều dùng hàng ngày từ 400 mg – 800 mg |
|
| Hệ cơ quan Tần suất |
Tác dụng không mong muốn |
| Nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng | |
| Thường gặp | Nhiễm khuẩn tai, nhiễm nấm** |
| Không thường gặp | Nhiễm helicobacter, herpes zoster, viêm quầng, nhiễm khuẩn vết thương, viêm lợi, viêm tai trong, nhiễm khuẩn |
| Khối u lành tính, ác tính và chưa phân loại | |
| Không thường gặp | U mỡ |
| Rối loạn tâm thần | |
| Không thường gặp | Rối loạn giấc ngủ |
| Rối loạn hệ thần kinh | |
| Không thường gặp | Nhồi máu não |
| Rối loạn mắt | |
| Không thường gặp | Xuất huyết kết mạc, đốm đen bay vào mắt |
| Rối loạn tai và tai trong | |
| Không thường gặp | Giảm thính lực |
| Rối loạn tim | |
| Thường gặp | Nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực |
| Không thường gặp | Đau thắt ngực thể không ổn định, thiểu năng van động mạch, vữa xơ động mạch vành, nhịp tim chậm xoang, phì đại tâm thất |
| Rối loạn mạch | |
| Rất thường gặp | Tăng huyết áp* |
| Không thường gặp | Huyết khối tĩnh mạch sâu, tụ máu |
| Rối loạn hô hấp, vùng ngực và trung thất | |
| Thường gặp | Khó thở |
| Không thường gặp | Khó phát âm |
| Rối loạn tiêu hóa | |
| Rất thường gặp | Tiêu chảy* |
| Thường gặp | Buồn nôn*, khó nuốt, hội chứng ruột kích thích, bệnh trào ngược dạ dày thực quản, buồn nôn, bệnh túi thừa |
| Không thường gặp | Trĩ xuất huyết, nhu động ruột thường xuyên, loét miệng, viêm dạ dày |
| Rối loạn gan mật | |
| Hiếm gặp | Tăng men gan (bao gồm tăng enzym alanin aminotransferase và aspartat aminotransferase) |
| Rối loạn da và mô dưới da | |
| Không thường gặp | Viêm da dị ứng |
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | |
| Thường gặp | Co thắt cơ |
| Không thường gặp | Nang dịch hoạt |
| Rối loạn thận và tiết niệu | |
| Thường gặp | Bệnh sỏi thận |
| Không thường gặp | Đi tiểu đêm |
| Rối loạn tuyến vú và hệ sinh sản | |
| Thường gặp | Xuất huyết âm đạo, viêm tiền liệt tuyến, tăng sản tiền liệt tuyến lành tính |
| Không thường gặp | Nang buồng trứng, các triệu chứng tắt kinh, căng ngực, thống kinh |
| Rối loạn toàn thân và tại chỗ dùng thuốc | |
| Không thường gặp | Phù |
| Các xét nghiệm | |
| Thường gặp | Tăng creatinin máu, tăng kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến, tăng cân |
| Không thường gặp | Tăng kali máu, tăng natri máu, giảm testosteron máu, giảm tỷ lệ hồng cầu tăng hemoglobin |
| Tổn thương, nhiễm độc và tình trạng do thủ thuật gây ra | |
| Không thường gặp | Gãy chân, gãy chi dưới, gãy xương, viêm mỏm gò xương, đứt gân |
* Tăng huyết áp, nôn ,tiêu chảy và tăng enzym gan được liệt kê trong bảng 2 vì có tần suất cao hơn trong những nghiên cứu này, kéo dài tới 3 năm, so với bảng 1 bao gồm những tác dụng không mong muốn từ các nghiên cứu chỉ kéo dài 12 tuần.
** Chủ yếu là nhiễm nấm tại chỗ.
Bệnh nhân nhi:
Nói chung, các tác dụng không mong muốn quan sát thấy trong nghiên cứu then chốt ở trẻ em tương tự như các phản ứng gặp trong nghiên cứu viêm khớp ở người lớn. Thêm vào đó sau đây là các tác dụng không không mong muốn được liệt kê trong bảng 1 do các nghiên cứu viên quan sát thấy và có thể liên quan đến celecoxib: đau đầu (11,3%, rất thường gặp), tiểu ra máu (0,6%, ít gặp) và cơn hen [1 bệnh nhân đã bị hen có kiểm soát thời gian đầu] (0,6%, ít gặp). So sánh với naproxen, celecoxib với liều 3 và 6 mg/kg dùng 2 lần trên ngày không có ảnh hưởng có hại đến sự phát triển và trưởng thành trong thời gian nghiên cứu mù đôi 12 tuần.
Tác dụng không mong muốn được báo cáo sau khi lưu hành:
Các tác dụng không mong muốn được báo cáo trong qua trình lưu hành được cung cấp dưới đây:
Mặc dù các tác dụng không mong muốn này được xác định thông qua quá trình lưu hành, tần suất của chúng vẫn được đánh giá tham khảo từ các thử nghiệm lâm sàng. Như ở trên, tần suất của các tác dụng không mong muốn này dựa trên khảo sát của các thử nghiệm lâm sàng trên 38.102 bệnh nhân sử dụng celecoxib. Tấn suất của các tác dụng không mong muốn này được định nghĩa như sau: rất thường gặp (≥ 10%), thường gặp (≥ 1% và < 10%), không thường gặp (> 0,1% và < 1%), hiếm gặp (> 0,015 và < 0,1%) và rất hiếm gặp (< 0,01%), không dược biết (không thể dự đoán từ dữ liệu hiện có).
Rối loạn hệ miễn dịch: Rất hiếm gặp: Các phản ứng dạng phản vệ.
Rối loạn tâm thần: Hiếm gặp: ảo giác.
Rối loạn hệ thần kinh: Rất hiếm gặp: xuất huyết não, viêm màng não vô khuẩn, mất vị giác, mất khứu giác.
Rối loạn mắt: Ít gặp: viêm kết mạc.
Rối loạn mạch: Rất hiếm gặp: viêm mạch.
Rối loạn hô hấp, ngực, trung thất: Hiếm gặp: nghẽn mạch phổi, viêm phổi.
Rối loạn tiêu hóa: Hiếm gặp: xuất huyết tiêu hóa.
Rối loạn gan mật: Hiếm gặp: viêm gan, rất hiếm gặp: suy gan, viêm gan bùng phát, hoại tử gan, ứ mật, viêm gan tắc mật, bệnh vàng da.
Rối loạn da và mô dưới da: Hiếm gặp: phản ứng nhạy cảm với ánh sáng, rất hiếm gặp: hội chứng stevens – Johnson, hồng ban đa dạng, hoại tử biểu bì nhiễm độc, phản ứng do thuốc kèm theo tăng bạch cầu ưa eosin và các triệu chứng toàn thân (DRESS và hội chứng quá mẫn), ngoại ban mụn mủ toàn than cấp tính (AGEP), viêm da tróc vẩy.
Rối loạn thận và tiết niệu: Hiếm gặp: suy thận cấp, hạ natri máu, rất hiếm gặp: viêm thận kẽ, hội chứng thận hư, viêm cầu thận tổn thương tối thiểu.
Rối loạn tuyến vú và hệ sinh sản: Hiếm gặp: rối loạn kinh nguyệt, không được biết; rối loạn khả năng sinh sản ở phụ nữ.
Rối loạn toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Ít gặp: đau ngực.
* phụ nữ chuẩn bị có thai được loại ra các thử nghiệm này, do đó việc tham khảo dữ liệu lâm sàng về tần suất cho các tác dụng không mong muốn này là không phù hợp.
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Nếu có biểu hiện độc hại thận trong khi điều trị bằng celecoxib, cần phải ngừng thuốc, thường chức năng thận sẽ trở về mức trước điều trị sau khi ngừng dùng thuốc. Test gan có thể tăng (gấp 3 lần mức bình thường ở giới hạn cao). Sự tăng này có thể tiến triển, hoặc không thay đổi hoặc chỉ tạm thời trong một thời gian khi tiếp tục điều trị. Nhưng nếu có biểu hiện nặng của viêm gan (vàng da, biểu hiện suy
gan…) phải ngừng ngay thuốc. Nói chung, khi dùng với liều thông thường và ngắn ngày, celecoxib dung nạp tốt. Thông báo với bác sĩ các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Rối loạn hô hấp, ngực, trung thất: Hiếm gặp: nghẽn mạch phổi, viêm phổi.
Rối loạn tiêu hóa: Hiếm gặp: xuất huyết tiêu hóa.
Rối loạn gan mật: Hiếm gặp: viêm gan, rất hiếm gặp: suy gan, viêm gan bùng phát, hoại tử gan, ứ mật, viêm gan tắc mật, bệnh vàng da.
Rối loạn da và mô dưới da: Hiếm gặp: phản ứng nhạy cảm với ánh sáng, rất hiếm gặp: hội chứng stevens – Johnson, hồng ban đa dạng,
hoại tử biểu bì nhiễm độc, phản ứng do thuốc kèm theo tăng bạch cầu ưa eosin và các triệu chứng toàn thân (DRESS và hội chứng quá
mẫn), ngoại ban mụn mủ toàn than cấp tính (AGEP), viêm da tróc vẩy.
Rối loạn thận và tiết niệu: Hiếm gặp: suy thận cấp, hạ natri máu, rất hiếm gặp: viêm thận kẽ, hội chứng thận hư, viêm cầu thận tổn
thương tối thiểu.
Rối loạn tuyến vú và hệ sinh sản: Hiếm gặp: rối loạn kinh nguyệt, không được biết; rối loạn khả năng sinh sản ở phụ nữ.
Rối loạn toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Ít gặp: đau ngực.
* phụ nữ chuẩn bị có thai được loại ra các thử nghiệm này, do đó việc tham khảo dữ liệu lâm sàng về tần suất cho các tác dụng không
mong muốn này là không phù hợp.
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Nếu có biểu hiện độc hại thận trong khi điều trị bằng celecoxib, cần phải ngừng thuốc, thường chức năng thận sẽ trở về mức trước điều
trị sau khi ngừng dùng thuốc. Test gan có thể tăng (gấp 3 lần mức bình thường ở giới hạn cao). Sự tăng này có thể tiến triển, hoặc không
thay đổi hoặc chỉ tạm thời trong một thời gian khi tiếp tục điều trị. Nhưng nếu có biểu hiện nặng của viêm gan (vàng da, biểu hiện suy
gan…) phải ngừng ngay thuốc.
Nói chung, khi dùng với liều thông thường và ngắn ngày, celecoxib dung nạp tốt.
Thông báo với bác sĩ các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
QUÁ LIỀU:
Kinh nghiệm lâm sàng về tình trạng quá liều còn hạn chế. Dùng đơn liều lên tới 1200 mg hoặc đa liều 2 lần/ngày với tổng liều 1200 mg ở người khỏe mạnh không cho thấy tác dụng không mong muốn nào về mặt lâm sàng. Trong trường hợp nghi nghờ quá liều, nên có biện pháp hỗ trợ về mặt y tế thích hợp. Thẩm phân không phải là biện pháp hiệu quả để loại bỏ thuốc vì thuốc liên kết mạnh với protein
Kinh nghiệm lâm sàng về tình trạng quá liều còn hạn chế. Dùng đơn liều lên tới 1200 mg hoặc đa liều 2 lần/ngày với tổng liều 1200 mg ở người khỏe mạnh không cho thấy tác dụng không mong muốn nào về mặt lâm sàng. Trong trường hợp nghi nghờ quá liều, nên có biện pháp hỗ trợ về mặt y tế thích hợp. Thẩm phân không phải là biện pháp hiệu quả để loại bỏ thuốc vì thuốc liên kết mạnh với protein
CÁC ĐẶC ĐÍNH DƯỢC LỰC HỌC:
Nhóm trị liệu: Thuốc kháng viêm NSAIDs, các coxib.
Mã ATC: M01AH01.
Cơ chế tác dụng của celecoxib là ức chế tổng hợp prostaglandin ban đầu thông qua việc ức chế enzym cyclooxygenase-2 (COX-2). Ở nồng độ điều trị trên người, celecoxib không ức chế enzym cyclooxygenase-1 (COX-1). COX-2 được tạo ra nhằm đáp ứng với tác nhân gây viêm. Điều này dẫn đến việc tổng hợp và tích lũy các prostanoid gây viêm, đặc biệt là prostaglandin E2, gây viêm, phù nề và đau.
Celecoxib có tác dụng như 1 chất kháng viêm, giảm đau và hạ nhiệt trên các động vật do ngăn cản quá trình sản xuất các prostanoid gây viêm thông qua ức chế COX-2. Trong u ruột kết ở các loài động vật, celecoxib giảm tỷ lệ mới mắc và sự nhân lên của các khối u.
Các nghiên cứu in vivo và ex vivo cho thấy celecoxib có ái lực thấp với enzym COX-1. Vì vậy ở liều điều trị celecoxib không có tác dụng trên các prostanoid được tổng hợp nhờ hoạt hóa COX-1, do đó không ảnh hưởng đến quá trình sinh lý bình thường liên quan đến COX-1 ở các mô, đặc biệt với dạ dày, ruột và tiểu cầu.
Nghiên cứu lâm sàng:
Thoái hóa khớp (OA): Celecoxib đã được chứng minh có khả năng làm giảm đau khớp rõ rệt so với giả dược. Celecoxib được đánh giá
trong điều trị các dấu hiệu và triệu chứng của thoái hóa khớp gối và hông trên khoảng 4200 bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng có đối chứng bằng giả dược và với hoạt chất khác trong thời gian tối đa là 12 tuần. Ở bệnh nhân thoái hóa khớp, điều trị bằng celecoxib 100 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 200 mg một lần mỗi ngày giúp cải thiện chỉ số thoái hóa khớp WOMAC (Western Ontario and McMaster Universities), là chỉ số tổng hợp các đại lượng đo lường về đau, cứng khớp và các chức năng trong thoái hóa khớp. Trong 3 nghiên cứu kéo dài 12 tuần về đau kèm theo bùng phát thoái hóa khớp 100 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 200 mg một lần mỗi ngày giúp giảm rõ rệt cơn
đau trong vòng 24 đến 48 giờ sau liều dùng khởi đầu. ở liều dùng 100 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 200 mg một lần mỗi ngày, hiệu quả của celecoxib tương tự như hiệu quả của naproxen 500 mg hai lần mỗi ngày. Liều dùng 200 mg hai lần mỗi ngày không đem lại thêm lợi ích nào so với liều 100 mg hai lần mỗi ngày. Liều dùng mỗi ngày tổng cộng 200 mg đã cho thấy hiệu quả như nhau, dù dùng 100mg hai lần mỗi ngày hay liều 200 mg một lần mỗi ngày.
Viêm khớp dạng thấp (RA): Celecoxib đã được chứng minh làm giảm rõ rệt tình trạng nhức/đau khớp và sưng khớp so với giả dược.
Celecoxib được đánh giá để điều trị các dấu hiệu và triệu chứng của viêm khớp dạng thấp (RA) trên 2100 bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược và với hoạt chất khác trong thời gian tối đa là 24 tuần. Celecoxib cho thấy hiệu quả vượt trội so với giả dược trong các nghiên cứu này, bằng cách sử dụng chỉ số đáp ứng ACR20 (hội thấp khớp học hoa kỳ 20), là chỉ số tổng hợp các đại lượng đo lường lâm sàng, xét nghiệm và chức năng trong viêm khớp dạng thấp. Liều celecoxib 100 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 200 mg hai lần mỗi ngày có hiệu quả tương tự nhau và cả hai đều tương đương naproxen 500 mg hai lần mỗi ngày.
Mặc dù celecoxib 100 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 200 mg hai lần mỗi ngày có hiệu quả tổng thể như nhau, một số bệnh nhân đã nhận được lợi ích cao hơn khi dùng liều 200 mg một lần mỗi ngày. Liều 400 mg hai lần mỗi ngày không mang lại thêm lợi ích nào so với liều 100 hay 200 mg hai lần mỗi ngày.
Viêm khớp tự phát kinh niên (JIA): Trong nghiên cứu so sánh không thua kém, đa trung tâm, nhóm song song, có đối chứng bằng hoạt chất mù đôi, ngẫu nhiên trong thời gian 12 tuần bao gồm 242 bệnh nhân từ 2 đến 17 tuổi bị viêm khớp thể phát kinh niên ở thể viêm ít khớp, viêm ít khớp mở rộng hoặc đa khớp (có yếu tố thấp khớp dương tính hoặc âm tính), và viêm khớp thiếu niên khởi phát toàn thân (với các đặc điểm toàn thân hiện tại bát hoạt), được điều trị bằng 1 trong những phác đồ sau: celecoxib 3 mg/kg ngày 2 lần (tối đa 150mg/ngày), celecoxib 6 mg/kg ngày 2 lần (tối đa 300mg/ngày), naproxen 7,5 mg/kg ngày 2 lần (tối đa 500mg/ngày). Tỷ lệ đáp ứng
dựa trên tiêu chí 30 nhi khoa ACR, là tiêu chí tổng hợp đo lường các yếu tố lâm sàng, xét nghiệm và chức năng của viêm khớp tự phát thiếu niên (JIA). Tỷ lệ đáp ứng 30 nhi khoa ACR ở tuần 12 là 69%, 80% và 67% lần lượt cho các nhóm điều trị bằng celecoxib 3 mg/kg, 6 mg/kg và naproxen 7,5 mg/kg, chứng minh cả hai đều không thua kém so với naproxen. Tính ổn định của hiệu quả điều trị được quan sát trong 12 tuần nghiên cứu nhãn mở sau khi tiến hành nghiên cứu mù đôi kéo dài 12 tuần nói trên. Trong đó 202 bệnh nhân được nhận celecoxib 6mg/kg đến tối đa 300 mg hai lần mỗi ngày. Hiệu quả và sự an toàn của celecoxib đối với viêm khớp tự phát thiếu niên chưa được nghiên cứu với thời gian quá 6 tháng. Độc tính trên tim mạch lâu dài ở trẻ em khi sử dụng celecoxib chưa được đánh giá và không rõ liệu nguy cơ lâu dài có thể sẽ giống như người trưởng thành sử dụng celecoxib hoặc NSAID chọn lọc và không chọn lọc COX-2 khác hay không.
Giảm đau kể cả đau bụng kinh nguyên phát: Trong các mô hình giảm đau cấp tính trong cơn đau sau phẫu thuật răng miệng, đau sau phẫu thuật chấn thương chỉnh hình và đau bụng kinh nguyên phát, celecoxib giảm đau từ vừa đến nặng theo đánh giá của bệnh nhân. Liều đơn celecoxib giúp giảm đau trong vòng 60 phút.
Viêm cột sống dính khớp (AS): Celecoxib được đánh giá ở các bệnh nhân viêm cột sống dính khớp trong hai thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với hoạt chất khác và với giả dược (naproxen và ketoprofen) trong thời gian 6 và 12 tuần. Celecoxib ở liều 100 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 200 mg một lần mỗi ngày và 400 mg một lần mỗi ngày cho thấy có tác dụng vượt trội về mặt thống kê so với giả dược trong các nghiên cứu này, cho tất cả 3 đại lượng chính đánh giá hiệu quả điều trị gồm: thang điểm (co-primary) đánh giá mức độ đau tổng thể (thang ước lượng trực quan) và suy giảm chức năng (Chỉ số chức năng viêm cột sống dính khớp Bath). Trong nghiên cứu kéo dài 12
tuần, không có sự khác biệt về mức độ cải thiện ở liều celecoxib từ 200 đến 400 mg khi so sánh mức thay đổi trung bình so với ban đầu, nhưng có tỷ lệ phần trăm bệnh nhân đáp ứng với celecoxib 400 mg (53%) cao hơn so với celecoxib 20 mg (44%), bằng phương pháp đánh giá dựa trên tiêu trí đáp ứng trong viêm cột sống dính khớp (ASAS20). Phương pháp ASAS 20 định nghĩa đáp ứng là cải thiện hơn so với ban đầu ít nhất là 20% và mức cải thiện tuyệt đối ít nhất là 10 mm, trên thang đo từ 0 đến 100 mm, trong đó ít nhất 3 trong 4 yếu
tố sau đây: Đánh giá tổng thể bệnh nhân, đau, chỉ số chức năng viêm cột sống dính khớp Bath và viêm. Phân tích trên những người đáp ứng cũng cho thấy không có thay đổi nào về tỷ lệ đáp ứng khi vượt qua 6 tuần.
Thông tin thêm từ các thử nghiệm lâm sàng: Các đánh giá nội soi đường tiêu hóa trên theo định kỳ được thực hiện trên hơn 4.500 bệnh nhân viêm khớp tham gia 5 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng kéo dài 12-24 tuần bằng cách sử dụng các hoạt chất so sánh, 2 trong số năm cuộc thử nghiệm đó cũng có đối chứng bằng giả dược. Không có mối quan hệ nhất quán nào giữa tỷ lệ mắc viêm loét dạ dày-tá tràng với liều celecoxib trong phạm vi nghiên cứu.
Bảng 3 tóm tắt tỷ lệ mới mắc loét sau nội soi trong hai nghiên cứu kéo dài 12 tuần với sự tham gia của các bệnh nhân mà nội soi ban đầu không phát hiện vết loét nào.
Bảng 3: Tỷ lệ mới mắc loét dạ dày-tá tràng do nghiên cứu nội soi ở các bệnh nhân thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp:
| Nghiên cứu kéo dài 3 tháng | ||
| Nghiên cứu 1 (N = 1108) |
Nghiên cứu 2 (N = 1049) |
|
| Giả dược | 2,3% (5/217) | 2,0% (4/200) |
| Celecoxib 50 mg hai lần mỗi ngày | 3,4% (8/233) | |
| Celecoxib 100 mg hai lần mỗi ngày | 3,1% (7/227) | 4,0% (9/223) |
| Celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày | 5,9% (13/221) | 2,7% (6/219) |
| Celecoxib 400 mg hai lần mỗi ngày | – | 4,1% (8/197) |
| Celecoxib 500 mg hai lần mỗi ngày | 16,2% (34/210)* | 17,6% (37/210) |
| *p ≤ 0,05 so với tất cả các phương pháp điều trị khác | ||
Bảng 4 tóm tắt dữ liệu của hai nghiên cứu kéo dài 12 tuần trong đó bệnh nhân tham gia có kết quả nội soi ban đầu không phát hiện vết loét nào. Bệnh nhân đã thực hiện nội soi định kỳ 4 tuần một lần để cung cấp thông tin về nguy cơ loét theo thời gian.
Bảng 4: Tỷ lệ mới mắc loét dạ dày tá tràng từ các cuộc nghiên cứu nội soi liên tiếp trong 3 tháng ở các bệnh nhân thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp
| Tuần 4 | Tuần 8 | Tuần 12 | Cuối cùng | |
| Nghiên cứu 3 (N = 523) | ||||
| Celecoxib | 4,0% | 2,2% | 1,5% | 7,5% |
| 200 mg hai lần/ngày | (10/252)* | (5/227)* | (3/196)* | (20/266)* |
| Naproxen | ||||
| 500 mg hai lần/ngày | (47/247) | (26/182) | (14/141) | (89/257) |
| Nghiên cứu 4 (N = 1062) | ||||
| Celecoxib | 3,9% | 2,4% | 1,8% | 7,0% |
| 200 mg hai lần/ngày | (13/337)† | (7/296)† | (5/274)† | (25/356)† |
| Diclofenac | 5,1% | 3,3% | 2,9% | 9,7% |
| 75 mg hai lần/ngày |
(18/350) | (10/306) |
(8/278) |
(36/372) |
| Ibuprofen | 13% | 6.2% | 9.6% | 23.3% |
| 800mg ba lần/ngày | (42/323) | 15/241 | 21/219 | 78/334 |
*p ≤ 0,05 celecoxib so với naproxen dựa trên phân tích tích lũy và phân tích khoảng
†p ≤ 0,05 celecoxib so với ibuprofen dựa trên phân tích tích lũy và phân tích khoảng
Một nghiên cứu ngẫu nhiên và mù đôi kéo dài 6 tháng ở 430 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đã được tiến hành, trong đó đã thực hiện kiểm tra nội soi tại thời điểm 6 tháng.
Tỷ lệ mới mắc loét qua nội soi ở bệnh nhân dùng celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày là 4% so với 15% đối với bệnh nhân dùng diclofenac SR 75 mg hai lần mỗi ngày (p < 0,001).
Trong số 4 trên 5 nghiên cứu nội soi, khoảng 11% bệnh nhân (440/4.000) dùng aspirin (≤ 325 mg/ngày). Trong nhóm celecoxib, tỷ lệ mắc loét qua nội soi xuất hiện cao hơn ở người sử dụng aspirin so với người không sử dụng. Tuy nhiên, tỷ lệ loét gia tăng ở những người sử dụng aspirin thấp hơn so với tỷ lệ loét qua nội soi được quan sát ở các nhóm dùng hoạt chất so sánh, dùng hoặc không dùng aspirin.
Chưa thiết lập được mối tương quan giữa kết quả của nghiên cứu nội soi và tỷ lệ mới mắc tương đối của biến cố nghiêm trọng có ý nghĩa về lâm sàng ở đường tiêu hóa trên. Xuất huyết đường tiêu hóa trên nghiêm trọng có ý nghĩa về lâm sàng đã được quan sát thấy ở các bệnh nhân dùng celecoxib trong thử nghiệm có đối chứng và nhãn mở, mặc dù không thường xuyên (xem phần 4.4 Tác dụng trên đường tiêu hóa).
Phân tích tổng hợp về tính an toàn trên đường tiêu hóa từ Nghiên cứu thoái hóa khớp và Viêm khớp dạng thấp
Một phân tích dựa trên 31 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng về thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp, bao gồm 39.605 bệnh nhân thoái hóa khớp (N = 25.903), viêm khớp dạng thấp (N = 3.232) hoặc các bệnh nhân mắc một trong hai tình trạng này (N = 10.470), và so sánh tỷ lệ mắc tác dụng không mong muốn về tiêu hóa ở các bệnh nhân điều trị bằng celecoxib với bệnh nhân dùng giả dược hoặc các thuốc NSAID (kể cả naproxen, diclofenac và ibuprofen). Tỷ lệ mới mắc loét trên lâm sàng và xuất huyết do loét với celecoxib tổng liều 200 mg – 400 mg hàng ngày là 0,2% so với tỷ lệ 0,6% với các thuốc NSAID (RR = 0,35; 95% CI 0,22 – 0,56).
Nghiên cứu về độ an toàn lâu dài của Celecoxib trong điều trị Viêm xương khớp (nghiên cứu CLASS) bao gồm cả việc sử dụng cùng với Aspirin. Trong một nghiên cứu tiền cứu về kết quả an toàn lâu dài tiến hành sau khi lưu hành thuốc trên khoảng 5.800 bệnh nhân thoái hóa khớp và 2.200 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân sử dụng celecoxib 400 mg hai lần mỗi ngày (lần lượt gấp 4 lần và 2 lần liều khuyếnnghị dùng cho thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp), ibuprofen 800 mg ba lần mỗi ngày hoặc diclofenac 75 mg hai lần mỗi ngày (liều điều trị thông thường). Thời gian sử dụng trung bình với celecoxib (N = 3.987) và diclofenac (N = 1.996) là 9 tháng trong khi ibuprofen (N = 1.985) là 6 tháng. Tỷ lệ tích lũy Kaplan-Meier tại thời điểm 9 tháng được cung cấp cho tất cả các phân tích. Tiêu chí đánh giá chính của kết quả nghiên cứu này là tỷ lệ viêm loét có biến chứng (xuất huyết, thủng hoặc tắc nghẽn đường tiêu hóa). Bệnh nhân được cho dùng đồng thời liều thấp (≤ 325 mg/ngày) aspirin (ASA) để đề phòng ảnh hưởng đến tim mạch (phân nhóm ASA: celecoxib, N = 882; diclofenac N = 445; ibuprofen, N = 412). Sự khác biệt về tỷ lệ viêm loét có biến chứng giữa celecoxib và nhóm dùng kết hợp ibuprofen và diclofenac không có ý nghĩa về mặt thống kê. Các bệnh nhân dùng đồng thời celecoxib và liều thấp ASA có tỷ lệ viêm loét có biến chứng cao gấp 4 lần so với những người không dùng ASA (xem phần 4.4 Tác dụng trên đường tiêu hóa). Kết quả về celecoxib được trình bày trong Bảng 5.
| Bảng 5: Tác dụng của việc dùng đồng thời Aspirin liều thấp đến tỷ lệ Viêm loét có biến chứng với CELECOXIB 400 mg hai lần mỗi ngày (Tỷ lệ Kaplan-Meier tại thời điểm 9 tháng [%]) | ||
| Người không dùng Aspirin N = 3105 |
Người dùng Aspirin N = 882 |
|
| Loét có biến chứng | 0.32 | 1.12 |
Chức năng tiểu cầu:
Ở người tình nguyện khỏe mạnh, celecoxib ở liều điều trị và khi dùng đa liều 600 mg hai lần mỗi ngày (gấp ba lần liều khuyến nghị cao nhất) không có ảnh hưởng gì đến quá trình kết tập tiểu cầu và thời gian xuất huyết so với giả dược. Ở tất cả các nhóm đối chứng với hoạt chất khác (chất ức chế COX không đặc hiệu) đều thấy giảm rõ rệt quá trình kết tập tiểu cầu và kéo dài thời gian xuất huyết (Xem Hình 1).
Hình 1: Tác dụng của celecoxib liều cao (600 mg hai lần một ngày) đến quá trình kết tập tiểu cầu và thời gian xuất huyết ở người khỏe
mạnh

* Chênh lệch đáng kể so với giả dược; p < 0,05
** Chênh lệch đáng kể so với celecoxib; p < 0,05
Nghiên cứu so sánh Celecoxib so với Omeprazole và Diclofenac trên bệnh nhân có nguy cơ bị thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp
(Nghiên cứu CONDOR).
Trong nghiên cứu tiền cứu, kéo dài 24 tuần ở những bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên hoặc có tiền sử loét dạ dày tá tràng (loại trừ người sử dụng aspirin liều thấp), tỷ lệ phần trăm bệnh nhân gặp phải biến cố tiêu hóa có ý nghĩa về mặt lâm sàng (tiêu chí đánh giá tổng hợp chính thấp hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày so với những bệnh nhân được điều trị bằng diclofenac SR 75 mg hai lần mỗi ngày kết hợp với omeprazol 20 mg một lần mỗi ngày. Sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng này là do sự giảm hemoglobin (≥ 2 g/dL) và/hoặc tỷ lệ hồng cầu (hematocrit) (≥ 10%) đã biết hoặc phỏng đoán là có nguồn gốc từ đường tiêu hóa.
Các kết quả cho từng thành phần của tiêu chí tổng hợp này như sau:
| Các thành phần của tiêu chí đánh giá tổng hợp đã biết |
Celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày (N = 2238) |
Diclofenac SR 75 mg hai lần mỗi ngày + Omeprazol 20 mg hàng ngày (N = 2246) |
| Thành phần | N (%) bệnh nhân | |
| Xuất huyết dạ dày tá tràng | 3 (0,1) | 3 (0,1) |
| Xuất huyết ruột già | 1 (< 0,1) | 1 (< 0,1) |
| Xuất huyết tiêu hóa cấp tính không rõ nguyên nhân | 1 (< 0,1) | 0 (< 0,0) |
| Giảm hemoglobin (≥ 2 g/dL) và/hoặc tỷ lệ hồng cầu (≥ 10%) có ý nghĩa về mặt lâm sàng có nguyên nhân tiêu hóa đã biết |
5 (0,2) | 24 (1,1) |
| Giảm hemoglobin (≥ 2 g/dL) và/hoặc tỷ lệ hồng cầu (≥ 10%) có ý nghĩa về mặt lâm sàng có nguyên nhân tiêu hóa ẩn được phỏng đoán |
10 (0,4) | 53 (2,3) |
| Tổng cộng* | 20 (0,9) | 81 (3,6) |
Đối với các thành phần sau đây của tiêu chí đánh giá tổng hợp đã biết, không có biến cố nào ở cả hai nhóm điều trị; tắc nghẽn đường ra của dạ dày; thủng dạ dày tắc tràng, ruột non hoặc ruột già; xuất huyết ruột non. Tất cả các biến cố cấu thành tiêu chí đánh giá tổng hợp đã được ban giám định chuyên môn độc lập phán xét và ban giám định này không được biết các thuốc điều trị đã được cho dùng theo phương pháp ngẫu nhiên.
*Trong phân tích tỷ lệ sống còn (time-to-event analysis), sử dụng kỹ thuật bảng thống kê tuổi thọ trung bình, xác suất p < 0,0001 là xác suất của việc so sánh giữa nhóm điều trị bằng celecoxib và nhóm điều trị bằng diclofenac kết hợp với omeprazole cho tiêu chí này.
An toàn đối với tim mạch – Nghiên cứu dài hạn trên bệnh nhân bị polyp u tuyến rải rác
Hai nghiên cứu trên bệnh nhân bị polyp u tuyến rải rác đã được tiến hành với celecoxib, tức là thử nghiệm APC (Phòng ngừa u tuyến bằng Celecoxib) và thử nghiệm PreSAP (Phòng ngừa polyp u tuyến tự phát). Trong thử nghiệm APC, có sự gia tăng liên quan đến liều ở tiêu chí đánh giá tổng hợp về tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ (đã phán xét) với celecoxib so với giả dược trong suốt 3 năm điều trị. Thử nghiệm PreSAP đã không cho thấy tiêu chí tổng hợp này có nguy cơ gia tăng có ý nghĩa về mặt thống kê.
Trong thử nghiệm APC, tỷ lệ nguy cơ so với giả dược ở tiêu chí tổng hợp về tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ (được giám định) là 3,4 (CI 95% 1,4 – 8,5) khi dùng 400 mg celecoxib hai lần mỗi ngày và 2,8 (95% CI 1,1 – 7,2) khi dùng 200 mg celecoxib hai lần mỗi ngày. Tỷ lệ tích lũy của tiêu chí đánh giá tổng hợp này qua 3 năm lần lượt là 3,0% (20/671) và 2,5% (17/685) cho nhóm sử dụng celecoxib 200 mg ngày 2 lần và 400 mg ngày 2 lần so với 0,9% (6/679) ở nhóm sử dụng giả dược. Mức tăng của cả hai nhóm sử dụng celecoxib so với nhóm sử dụng giả dược chủ yếu là do nhồi máu cơ tim.
Trong thử nghiệm PreSAP, tỷ lệ nguy cơ so với giả dược của cùng tiêu chí đánh giá tổng hợp này là 1,2 (CI 95% 0,6 – 2,4) khi dùng 400mg celecoxib một lần mỗi ngày. Tỷ lệ tích lũy của tiêu chí tổng hợp này qua 3 năm là 2,3% (21/933) so với 1,9% (12/628) ở nhóm sử dụng giả dược.
An toàn đối với tim mạch – Nghiên cứu dài hạn của thử nghiệm phòng ngừa bằng thuốc kháng viêm trong bệnh Alzheimer (Nghiên cứu ADAPT)
Dữ liệu từ nghiên cứu ADAPT không cho thấy mức tăng đáng kể về nguy cơ tim mạch khi dùng celecoxib liều 200 mg hai lần mỗi ngày so với giả dược. Nguy cơ tương đối so với giả dược của một tiêu chí tổng hợp tương tự (tử vong do tim mạch (CV), nhồi máu cơ tim (MI), đột quỵ) là 1,14 (CI 95% 0,61 – 2,12) khi dùng 200 mg celecoxib hai lần mỗi ngày.
An toàn đối với tim mạch – Phân tích tổng hợp từ các nghiên cứu về việc sử dụng thuốc lâu dài Chưa tiến hành được nghiên cứu lâm sàng dài hạn có đối chứng được thiết kế đặc biệt để đánh giá tính an toàn của celecoxib đối với tim mạch khi được sử dụng lâu dài trong bất kỳ khoảng thời gian nào. Tuy nhiên, phân tích tổng hợp dữ liệu an toàn (các biến cố bất lợi nghiêm trọng đã được giám định do nghiên cứu viên báo cáo) từ 39 nghiên cứu lâm sàng về celecoxib hoàn thành trong tối đa 65 tuần
đã được tiến hành, tương ứng với 41.077 bệnh nhân (23.030 (56,1%) bệnh nhân dùng tổng liều celecoxib 200 mg-800 mg hàng ngày (TDD), 13.990 (34,1%) bệnh nhân dùng các thuốc NSAID không chọn lọc và 4.057 (9,9%) bệnh nhân dùng giả dược.
Trong phân tích này, tỷ lệ biến cố được giám định đối với tiêu chí tổng hợp (bao gồm tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong và đột quỵ không gây tử vong) là tương tự giữa điều trị bằng celecoxib (N = 19.773; 0,96 biến cố/100 bệnh nhân-năm) và NSAID không chọn lọc (N = 13.990; 1,12 biến cố/100 bệnh nhân-năm) (RR = 0,90, CI 95% 0,60 – 1,33). Mô hình tác dụng này được duy trì cho dù có dùng hay không dùng ASA (≤ 325 mg). Tỷ lệ biến cố nhồi máu cơ tim không gây tử vong được giám định có xu hướng cao hơn (RR = 1,76, CI 95% 0,93 – 3,35), tuy nhiên tỷ lệ đó ở đột quỵ không gây tử vong có xu hướng thấp hơn (RR = 0,51, CI 95% 0,23 –1,10), và tỷ lệ đó ở trường hợp tử vong do tim mạch là tương tự (RR = 0,57, CI 95% 0,28 – 1,14) khi dùng celecoxib so với dùng kết hợp các NSAID không chọn lọc.
Trong phân tích này, tỷ lệ biến cố đối với tiêu chí tổng hợp bao gồm tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong và đột quỵ không gây tử vong là 1,42/100 bệnh nhân-năm đối với điều trị bằng celecoxib (N = 7.462) và 1,20/100 bệnh nhân-năm đối với giả dược (N = 4.057) (RR = 1,11, CI 95% 0,47 – 2,67). Mô hình tác dụng này được duy trì cho dù có dùng hay không dùng ASA (≤ 325 mg). Tỷ lệ nhồi máu cơ tim không gây tử vong có xu hướng cao hơn (RR = 1,56, CI 95% 0,21 – 11,90), tỷ lệ đó ở trường hợp tử vong do tim mạch cũng cao hơn (RR = 1,26, CI 95% 0,33 – 4,77), và tỷ lệ đó ở đột quỵ không gây là tương tự (RR = 0,80, CI 95% 0,19 – 3,31) khi dùng celecoxib so với giả dược.
An toàn đối với tim mạch
Các kết quả an toàn đối với tim mạch đã được đánh giá ở thử nghiệm CLASS (xem ở trên để biết chi tiết về thử nghiệm). Tỷ lệ tích lũy Kaplan-Meier đối với các biến cố bất lợi nghiêm trọng do huyết khối tắc nghẽn tim mạch được nghiên cứu viên báo cáo lại (bao gồm nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu, đau thắt ngực không ổn định, cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời và các tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ) không cho thấy sự khác biệt nào giữa các nhóm điều trị bằng celecoxib, diclofenac hoặc ibuprofen.
Tỷ lệ tích lũy ở tất cả các bệnh nhân sau chín tháng điều trị với celecoxib, diclofenac và ibuprofen lần lượt là 1,2%, 1,4% và 1,1,%. Tỷ lệ tích lũy ở những bệnh nhân không sử dụng ASA sau chín tháng điều trị ở từng nhóm trong ba nhóm điều trị là dưới 1%. Tỷ lệ tích lũy đối với nhồi máu cơ tim ở những bệnh nhân không dùng ASA sau chín tháng điều trị ở từng nhóm của ba nhóm điều trị là dưới 0,2%. Không có nhóm giả dược ở thử nghiệm CLASS. Điều này giới hạn khả năng xác định xem liệu ba loại thuốc đã thử nghiệm đều không tăng nguy cơ bị các biến cố tim mạch hay không hay tất cả các thuốc đó đã tăng nguy cơ ở mức độ tương tự nhau.
CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC:
Hấp thu
Dược động học của celecoxib đã được đánh giá trên khoảng 1.500 người. Khi dùng lúc đói celecoxib dễ dàng được hấp thu và đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khoảng 2 – 3 giờ. Sinh khả dụng đường uống dạng viên nang là 99% so với dạng hỗn dịch (dạng đường uống tối ưu hiện có). Khi được dùng lúc đói, cả nồng độ đỉnh trong huyết tương (C max ) và diện tích dưới đường cong (AUC) đều tỷ lệ với liều cho đến 200 mg, 2 lần/ngày; ở liều cao hơn tỷ lệ tăng tương ứng của C max và AUC thấp hơn.
Phân bố
Tỷ lệ gắn kết với protein huyết tương (tỷ lệ này không phụ thuộc nồng độ) là khoảng 97% ở nồng độ điều trị trong huyết tương và celecoxib không ưu tiên gắn với hồng cầu.
Chuyển hóa
Celecoxib được chuyển hóa chủ yếu qua cytocrom P450 2C9. Ba sản phẩm chuyển hóa không có tác dụng ức chế COX-1 hoặc COX-2 được nhận diện trong huyết tương người là alcol bậc nhất, acid carboxylic tương ứng và dạng liên hợp với glucuronid của nó. Hoạt tính của cytocrom P4502C9 giảm ở người có đa hình di truyền và điều này dẫn đến giảm hoạt tính của enzym, ví dụ người đồng hợp tử đối với đa hình CYP2C9*3. Trong nghiên cứu dược động học của celecoxib 200 mg dùng 1 lần/ngày ở người tình nguyện khỏe mạnh, có kiểu gen CYP2C9*1/*1, CYP2C9*1/*3, giá trị trung bình Cmax và AUC0-24 của celecoxib vào ngày 7 lần lượt là xấp xỉ gấp 4 lần và 7 lần, ở người có kiểu gen CYP2C9*3/*3 so với kiểu các gen khác. Trong 3 nghiên cứu đơn liều riêng rẽ, có tổng cộng 5 đối tượng có kiểu gen CYP2C9*3/*3, liều đơn AUC0-24 liều đơn tăng khoảng 3 lần so với người chuyển hóa bình thường. Ước tính tần suất của kiểu gen *3/*3 là 0,3% đến 1,0% giữa các nhóm chủng tộc khác nhau. Cần thận trọng khi dùng celecoxib ở bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ có chuyển hóa CYP2C9 kém dựa trên tiền sử/kinh nghiệm với các cơ chất khác của CYP2C9. Nên xem xét việc bắt đầu điều trị với một nửa liều khuyến nghị thấp nhất (xem phần 4.2 Liều dùng và cách dùng và 4.5 Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác).
Thải trừ
Thải trừ celecoxib chủ yếu do chuyển hóa qua gan với dưới 1% liều dùng được bài tiết nguyên dạng qua nước tiểu. Sau khi dùng đa liều, thời gian bán thải là 8-12 giờ và tốc độ thanh thải khoảng 500 ml/phút. Với đa liều, nồng độ thuốc trong huyết tương ổn định đạt được trước ngày thứ 5. Biến thiên giữa các đối tượng về các thông số dược động học chính (AUC, C max , thời gian bán thải) là khoảng 30%.
Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định trung bình là khoảng 500L/70kg ở người trưởng thành khỏe mạnh cho thấy sự phân bố rộng khắp
của celecoxib vào các mô. Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã xác định thuốc vượt qua được hàng rào máu não.
Ảnh hưởng của thức ăn
Dùng thuốc cùng thức ăn (giàu chất béo) làm chậm sự hấp thu của celecoxib thể hiện qua Tmax đạt được sau khoảng 4 giờ và làm sinh khả dụng tăng khoảng 20% (xem phần 4.2 Liều dùng và cách dùng).
Ở người tình nguyện khỏe mạnh, lượng hấp thu toàn thân (AUC) của celecoxib tương đương giữa dạng uống nguyên viên nang hoặc dạng hòa tan trong nước sốt táo. Không có sự thay đổi có ý nghĩa về C max , T max hoặc T1/2 sau khi uống thuốc nguyên viên hoặc hòa tan vào nước sốt táo.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người cao tuổi
Ở người trên 65 tuổi, giá trị trung bình C max và AUC của celecoxib tăng lên 1,5 – 2 lần. Điều này chủ yếu liên quan đến cân nặng chứ không do thay đổi về tuổi tác, celecoxib có nồng độ cao hơn trên những bệnh nhân có cân nặng ít hơn và do đó cao hơn ở những người lớn tuổi có cân nặng trung bình thấp hơn những người trẻ. Do vậy, phụ nữ lớn tuổi có xu hướng có nồng độ thuốc trong huyết tương cao hơn đàn ông lớn tuổi. Nói chung không cần điều chỉnh liều. Tuy nhiên, với các bệnh nhân lớn tuổi có cân nặng dưới trung bình (< 50kg), nên bắt đầu điều trị bằng liều khuyến nghị thấp nhất.
Trẻ em
Dược động học ở trạng thái ổn định của celecoxib dùng ở dạng hỗn dịch uống được đánh giá ở 152 bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên từ 2 tuổi đến 17 tuổi có cân nặng ≥ 10 kg bị viêm khớp tự phát thiếu niên (có yếu tố thấp dương tính hoặc âm tính) ở một hoặc vài khớp, thể mở rộng hoặc đa khớp và bệnh nhân bị viêm khớp tự phát thiếu niên khởi phát toàn thân (với các đặc điểm hiện tại toàn thân bất hoạt). Phân tích dược động học quần thể chỉ ra rằng độ thanh thải đường uống (không điều chỉnh theo cân nặng) của celecoxib tăng với tỷ lệ ít hơn so với mức tăng cân nặng, với bệnh nhân 10 kg và 25 kg dự đoán có độ thanh thải lần lượt giảm 40% và 24% so với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nặng 70 kg. Dùng viên nang 50 mg, 2 lần/ngày cho bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên có cân nặng từ 10 – 25 kg và dùng viên nang 100 mg cho bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên có cân nặng từ 25 kg trở lên đạt được nồng độ huyết tương tương tự như nồng độ huyết tương trong thử nghiệm lâm sàng, điều này chỉ ra rằng tác dụng khi dùng celecoxib không thua kém khi dùng naproxen liều 7,5 mg 2 lần/ngày (xem phần 4.2 Liều dùng và cách dùng). Celecoxib chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên dưới 2 tuổi, bệnh nhân cân nặng dưới 10 kg (22lbs) hoặc trong thời gian quá 24 tuần.
Chủng tộc
Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu dược động học đã dự đoán AUC của celecoxib ở người da đen cao hơn khoảng 40% so với người da trắng. Nguyên nhân và ý nghĩa lâm sàng của vấn đề này vẫn chưa được biết.
Suy gan: Nồng độ trong huyết tương của celecoxib ở bệnh nhân suy gan nhẹ (Child-Pugh Loại A) không có khác biệt đáng kể so với
nồng độ ở nhóm đối chứng có tuổi và giới tính tương ứng. Trên các bệnh nhân suy gan vừa (Child-Pugh Loại B) nồng độ celecoxib trong huyết tương gấp khoảng 2 lần nồng độ so với nhóm đối chứng tương ứng (xem phần 4.2 Liều dùng và cách dùng).
Suy thận: Trên các bệnh nhân tình nguyện cao tuổi bị giảm tốc độ lọc cầu thận (GFR) do tuổi (GFR trung bình > 65 ml/phút/1,73m2) và các bệnh nhân bị suy thận mạn ổn định (GFR 35 – 60 ml/phút/1,73m2), dược động học của celecoxib tương đương với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Không có mối liên hệ đáng kể nào được tìm thấy giữa creatinin huyết thanh (hoặc hệ số thanh thải creatinin) và độ thanh thải celecoxib. Suy thận nặng không thay đổi độ thanh thải celecoxib do đường thải trừ chính của thuốc là qua chuyển hóa tại gan thành dạng không hoạt tính. Ảnh hưởng trên thận: Các vai trò liên quan của COX-1 và COX-2 trong sinh lý thận chưa được biết đầy đủ. Celecoxib làm giảm sự thải trừ qua thận của PGE2 và 6-keto PGF1 α (một chất chuyển hóa của prostacyclin) nhưng không ảnh hưởng đến thải trừ thromboxan B1 huyết thanh và 11-dehydro-TXB2, một chất chuyển hóa của thromboxan (cả hai đều là sản phẩm của COX-1) Các nghiên cứu riêng biệt đã cho thấy celecoxib không làm giảm GFR ở bệnh nhân lớn tuổi hoặc bệnh nhân suy thận mạn. Các nghiên cứu này cũng cho thấy có sự giảm bài tiết natri tạm thời. Trong các nghiên cứu trên các bệnh nhân viêm khớp, đã quan sát thấy tỷ lệ phù mạch ngoại vi tương đương so với bệnh nhân dùng các thuốc ức chế COX không đặc hiệu (cũng có tác động ức chế COX-2). Điều này thấy rõ nhất trên các bệnh nhân đang điều trị kết hợp với thuốc lợi tiểu. Tuy nhiên không ghi nhận tăng tỷ lệ của tăng huyết áp và suy tim; tình trạng phù mạch ngoại vi thường nhẹ và tự hết
TIÊU CHUẨN: TC NSX.
QUY CÁCH ĐÓNG GÓI: Hộp 1 vỉ, 2 vỉ, 3 vỉ, 6 vỉ x 10 viên.
ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN: Nơi khô mát, nhiệt độ không quá 30ºC, tránh ánh sáng.
HẠN DÙNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.