DƯỢC ĐỘNG HỌC
Dược động học của sitagliptin được nghiên cứu sâu rộng ở đối tượng khỏe mạnh và ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Ở đối tượng khỏe mạnh uống dùng 1 liều 100 mg, sitagliptin được hấp thu nhanh chóng đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (trung vị Tmax
) sau 1-4 giờ sau khi uống thuốc. AUC của sitagliptin trong huyết tương gia tăng tương ứng
theo liều dùng. Ở người tình nguyện khỏe mạnh khi uống 1 liều đơn 100 mg, AUC trung bình của sitagliptin trong huyết tương là 8,52 μM/giờ, Cmax là 950 nM, và thời gian bán thải đo được (t1/2) là 12,4 giờ. AUC của sitagliptin huyết tương tăng xấp xỉ 14% sau khi dùng các liều 100 mg ở trạng thái bền vững so với liều đầu tiên. Hệ số tương quan vềAUC của sitagliptin ở từng đối tượng và giữa các đối tượng đều nhỏ (5,8% so với 15,1%). Dược động học của sitagliptin nói chung đều giống nhau ở đối tượng khỏe mạnh và ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Hấp thu
Sinh khả dụng tuyệt đối của sitagliptin khoảng 87%. Do uống thuốc trong bữa ăn có nhiều chất béo không ảnh hưởng đến dược động dược học của sitagliptin dùng cùng lúc; nên có thể dùng sitagliptin cùng hoặc không cùng với thức ăn (lúc no hoặc lúc đói). Phân phối
Thể tích phân phối trung bình ở trạng thái bền vững sau khi dùng 1 liều đơn sitagliptin 100 mg đường tĩnh mạch ở đối tượng khỏe mạnh là khoảng 198 lít. Tỷ lệ sitagliptin gắn kết thuận nghịch với các protein huyết tương thấp (38%).
Chuyển hóa
Sitagliptin được đào thải chủ yếu trong nước tiểu ở dạng không thay đổi và một phần nhỏ qua đường chuyển hóa.
Gần 79% sitagliptin được thải trong nước tiểu ở dạng không thay đổi.
Sau khi uống 1 liều sitagliptin có đánh dấu [14C], khoảng 16% chất có tính phóng xạ là các chất chuyển hóa của sitagliptin. Sáu chất chuyển hóa này được phát hiện ở nồng độ vết và được cho là không liên quan đến hoạt tính ức chế DPP-4 huyết tương của sitagliptin. Những nghiên cứu in vitro đã chứng minh enzyme chủ yếu chịu trách nhiệm
cho sự chuyển hóa hạn chế của sitagliptin là CYP3A4, với sự góp phần của CYP2C8.
Thải trừ
Sau khi các đối tượng khỏe mạnh uống 1 liều sitagliptin [14C], khoảng 100% chất có tính phóng xạ được thải trong phân (13%) hoặc nước tiểu (87%) trong 1 tuần dùng thuốc. Thời gian bán thải đo được sau khi uống 1 liều sitagliptin 100 mg thì xấp xỉ 12,4 giờ và sự thanh thải qua thận khoảng 350 mL/phút. Sitagliptin được đào thải chủ yếu qua thận với sự bài tiết chủ động qua ống thận. Sitagliptin là 1 chất nền đối với chất chuyên chở anion hữu cơ 3 ở người (human organic anion transporter-3: hOAT-3), vốn là chất có thể tham gia vào sự thải trừ sitagliptin qua thận, vẫn chưa xác định được sự liên quan lâm sàng của hOAT-3 trong sự vận chuyển sitagliptin. Sitagliptin cũng là chất nền của p-glycoprotein, mà chất này cũng có thể tham gia vào quá trình đào thải sitagliptin qua thận. Tuy nhiên, cyclosporin,
một chất ức chế p-glycoprotein không làm giảm sự thanh thải sitagliptin qua thận.
Các đặc tính ở bệnh nhân
Suy thận: Một nghiên cứu mở liều đơn, được tiến hành để đánh giá dược động học của sitagliptin (liều 50 mg) ở các bệnh nhân suy thận mạn tính với các mức độ khác nhau so với nhóm chứng khỏe mạnh bình thường. Nghiên cứu này gồm các bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình và nặng, cũng như các bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn cuối đang
được thẩm phân máu. Ngoài ra, ảnh hưởng của suy thận trên dược động học của sitagliptin ở bệnh nhân bị đái tháo đường týp 2 và suy thận nhẹ, trung bình hoặc nặng (bao gồm cả bệnh thận giai đoạn cuối) đã được đánh giá bằng các phân tích dược động học theo dân số.
So với nhóm đối chứng khỏe mạnh bình thường, AUC của sitagliptin trong huyết tương đã tăng khoảng 1,2 lần và 1,6 lần ở bệnh nhân suy thận nhẹ (eGFR ≥ 60 mL/phút/1,73 m2 đến < 90 mL/phút/1,73 m2) và bệnh nhân suy thận trung bình (eGFR ≥ 45 mL/phút/1,73 m2 đến < 60 mL/phút/1,73 m2), theo thứ tự tương ứng. Do sự gia tăng này không liên
quan đến lâm sàng nên không cần điều chỉnh liều lượng ở những bệnh nhân này. AUC của sitagliptin trong huyết tương đã tăng khoảng 2 lần ở bệnh nhân suy thận trung bình (eGFR ≥ 30 mL/phút/1,73 m2 đến < 45 mL/phút/1,73 m2), và tăng khoảng 4 lần ở bệnh nhân suy thận nặng (eGFR < 30 mL/phút/1,73 m2), bao gồm bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối đang được thẩm phân máu. Sitagliptin được loại bỏ vừa phải qua thẩm phân máu (13,5% sau 3-4 giờ thẩm phân máu, bắt đầu thẩm phân sau khi uống thuốc được 4 giờ). Để đạt nồng độ sitagliptin trong huyết tương tương tự như ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, nên dùng liều thấp hơn ở bệnh nhân có eGFR < 45 mL/phút/1,73 m2. (xem LIỀU DÙNG, CÁCH DÙNG, Bệnh nhân suy thận).
Suy gan: Ở bệnh nhân suy gan trung bình (điểm số Child-Pugh 7-9), giá trị trung bình AUC và Cmax của sitagliptin tăng, lần lượt, khoảng 21% và 13%, so với nhóm chứng tương ứng khỏe mạnh sau khi dùng 1 liều đơn sitagliptin 100 mg. Các khác biệt này được xem không có ý nghĩa lâm sàng. Không cần điều chỉnh liều sitagliptin đối với bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình. Không có kinh nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân bị suy gan nặng (điểm số Child-Pugh > 9). Tuy nhiên, vì sitagliptin chủ yếu được đào thải qua thận, nên theo dự đoán suy gan nặng không tác động lên dược động học của sitagliptin.
Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều theo tuổi. Tuổi tác không gây tác động có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của sitagliptin dựa theo 1 phân tích dược động học theo dân số từ dữ liệu giai đoạn I và giai đoạn II. Đối tượng người cao tuổi (65-80 tuổi) có nồng độ sitagliptin huyết tương cao hơn 19% so với đối tượng trẻ tuổi hơn.
Trẻ em: Dược động học của sitagliptin (liều đơn 50 mg, 100 mg hoặc 200 mg) đã được nghiên cứu ở bệnh nhân trẻ em (từ 10-17 tuổi) bị bệnh đái tháo đường týp 2. Ở nhóm bệnh nhân này, diện tích dưới đường cong (AUC) điều chỉnh liều của sitagliptin trong huyết tương thấp hơn khoảng 18% so với bệnh nhân người lớn bị bệnh đái tháo đường týp 2
với liều 100 mg. Điều này không được xem là sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên mối quan hệ dược động học/ dược lực học (PK/PD) đồng nhất giữa liều 50 mg và 100 mg ở người lớn.
Chưa tiến hành nghiên cứu với sitagliptin ở bệnh nhân trẻ em < 10 tuổi.
Giới tính: Không cần điều chỉnh liều theo giới tính. Giới tính không gây tác động có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của sitagliptin dựa theo một phân tích tổng hợp từ các dữ liệu dược động học giai đoạn I và theo một phân tích dược động học dân số từ dữ liệu lâm sàng giai đoạn I và giai đoạn II.
Chủng tộc: Không cần điều chỉnh theo chủng tộc. Chủng tộc không gây tác động có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của sitagliptin dựa theo một phân tích tổng hợp từ các dữ liệu dược động học giai đoạn I và theo một phân tích dược động học dân số từ dữ liệu lâm sàng giai đoạn I và giai đoạn II, bao gồm các đối tượng người da trắng, Tây Ban Nha, da đen, da vàng Châu Á và các nhóm chủng tộc khác.
Chỉ số khối cơ thể (BMI): Không cần chỉnh liều theo BMI. Chỉ số khối cơ thể không gây tác động có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của sitagliptin dựa theo một phân tích tổng hợp từ các dữ liệu dược động học giai đoạn I và theo một phân tích dược động học dân số từ dữ liệu lâm sàng giai đoạn I và giai đoạn II.
Đái tháo đường týp 2: Dược lực học của sitagliptin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thường tương tự như ở đối tượng khỏe mạnh.
DỮ LIỆU TỪ CÁC THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
Về tổng thể, sitagliptin đã cải thiện sự kiểm soát đường huyết khi được sử dụng dưới dạng đơn trị liệu hoặc điều trị phối hợp (xem Bảng 2). Hai nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của sitagliptin đơn trị liệu. Điều trị bằng sitagliptin liều 100 mg, 1 lần/ngày dưới dạng đơn trị liệu đã đem lại sự cải thiện đáng kể về HbA1c, glucose huyết tương lúc đói (FPG) và glucose 2 giờ sau bữa ăn (2 giờ PPG) so với giả dược trong 2 nghiên cứu, một nghiên cứu trong thời gian 18 tuần và một nghiên cứu trong thời gian 24 tuần. Đã quan sát thấy sự cải thiện các chỉ tiêu thay thế về chức năng tế bào beta, bao gồm HOMA-β (Đánh giá mô hình hằng định nội môi-β), tỷ lệ proinsulin/in- sulin và các đánh giá về đáp ứng của tế bào beta từ thử nghiệm dung nạp bữa ăn được lấy mẫu thường xuyên. Tỷ lệ hạ đường huyết được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin tương tự như với giả dược. Thể trọng không tăng so với ban đầu khi điều trị bằng sitagliptin trong cả hai nghiên cứu, so với mức giảm nhẹ ở bệnh nhân dùng giả dược.
Trong 2 nghiên cứu 24 tuần, liệu pháp bổ sung sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày đã đem lại sự cải thiện đáng kể về các thông số đường huyết khi so với giả dược, một nghiên cứu phối hợp với metformin và một nghiên cứu phối hợp với pioglitazone. Thay đổi so với ban đầu về thể trọng ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin là tương tự khi so với giả dược. Trong các nghiên cứu này, báo cáo về các trường hợp hạ đường huyết là tương tự ở cả hai nhóm bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin hoặc giả dược.
Một nghiên cứu đối chứng với giả dược trong 24 tuần đã được thiết kế để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của sitagliptin (100 mg, 1 lần/ngày) khi kết hợp với glimepiride đơn trị liệu hoặc glimepiride phối hợp với metformin. Việc bổ sung sitagliptin vào glimepiride đơn trị liệu hoặc glimepiride và metformin đã đem lại sự cải thiện đáng kể về các thông số đường huyết. Những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin có thể trọng tăng vừa phải so với những bệnh nhân dùng giả dược.
Một nghiên cứu đối chứng với giả dược trong 26 tuần đã được thiết kế để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của sitagliptin (100 mg, 1 lần/ngày) được thêm vào trị liệu phối hợp của pioglitazone và metformin. Việc bổ sung sitagliptin vào trị liệu phối hợp pioglitazone và metformin đã đem lại sự cải thiện đáng kể về các thông số đường huyết. Thay đổi về thể trọng so với ban đầu là tương tự nhau ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin và giả dược.
Tỷ lệ hạ đường huyết cũng tương tự nhau ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin và giả dược.
Một nghiên cứu đối chứng với giả dược trong 24 tuần đã được thiết kế để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của sitagliptin (100 mg, 1 lần/ngày) được thêm vào liệu pháp insulin (ở liều ổn định trong ít nhất 10 tuần) có hoặc không có metformin (ít nhất là 1.500 mg). Ở những bệnh nhân dùng insulin hỗn hợp, liều trung bình hàng ngày là 70,9 đơn vị (U)/ngày. Ở những bệnh nhân dùng insulin không trộn sẵn (tác dụng trung bình/ tác dụng kéo dài), liều trung bình hàng ngày là 44,3 U/ngày. Việc bổ sung sitagliptin vào liệu pháp insulin đã đem lại sự cải thiện đáng kể về các thông số đường huyết. Không có thay đổi có ý nghĩa so với ban đầu về thể trọng ở cả hai nhóm.
Trong một nghiên cứu về điều trị ban đầu đối chứng với giả dược kéo dài 24 tuần, sitagliptin 50 mg, 2 lần/ngày phối hợp với metformin (500 mg hoặc 1.000 mg, 2 lần/ngày) đã đem lại sự cải thiện đáng kể về các thông số đường huyết so với đơn trị liệu. Việc giảm thể trọng khi dùng phối hợp sitagliptin với metformin tương tự như đã quan sát thấy với metformin đơn độc hoặc giả dược; không có thay đổi so với ban đầu ở những bệnh nhân dùng sitagliptin đơn độc. Tỷ lệ hạ đường huyết tương tự nhau giữa các nhóm điều trị.
Bảng 2. Kết quả về HbA1c trong các nghiên cứu đơn trị liệu và điều trị phối hợp đối chứng với giả dược*
| Nghiên cứu |
HbA1c trung bình ban đầu (%) |
Thay đổi trung bình về HbA1c so với ban đầu (%)† |
Thay đổi trung bình về HbA1c so với giả dược (%)† (Khoảng tin cậy (CI) 95%) |
| Các nghiên cứu đơn trị liệu |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày § (N= 193) |
8,0 |
-0,5 |
-0,6 ‡ (-0,8, -0,4) |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày ” (N= 229) |
8,0 |
-0,6 |
-0,8 ‡ (-1,0, -0,6) |
| Các nghiên cứu điều trị phối hợp |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày thêm vào liệu pháp metformin đang dùng ” (N=453) |
8,0 |
-0,7 |
-0,7 ‡ (-0,8, -0,5) |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày thêm vào liệu pháp pioglitazone đang dùng“ (N=163) |
8,1 |
-0,9 |
-0,7 ‡ (-0,9, -0,5) |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày thêm vào liệu pháp glimepiride đang dùng” (N=102) |
8,4 |
-0,3 |
-0,6 ‡ (-0,8, -0,3) |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày thêm vào liệu pháp glimepiride + metformin đang dùng” (N=115) |
8,3 |
-0,6 |
-0,9 ‡ (-1,1, -0,7) |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày thêm vào liệu pháp pioglitazone + metformin đang dùng # (N=152) |
8,8 |
-1,2 |
-0,7 ‡ (-1,0, -0,5) |
Trị liệu ban đầu (2 lần/ ngày)“ Sitagliprin 50 mg + metformin 500 mg (N=183) |
8,8 |
-1,4 |
-1,6 ‡ (-1,8, -1,3) |
Trị liệu ban đầu (2 lần/ngày)“ Sitagliptin 50 mg + metformin 1000mg (N=178) |
8,8 |
-1,9 |
-2,1 ‡ (-2,3,-1,8) |
Sitagliptin 100 mg, 1 lần/ ngày thêm vào liệu pháp insulin đang dùng (+/- metformin)” (N=305) |
8,7 |
-0,6¶ |
-0,6‡,¶ (-0,7, -0,4) |
* Tất cả bệnh nhân ở nhóm dân số được điều trị (phân tích theo ý định điều trị).
† Giá trị trung bình bình phương tối thiểu được điều chỉnh theo tình trạng điều trị chống tăng đường huyết trước đó và giá trị ban đầu.
‡ p < 0,001 so với giả dược hoặc giả dược + điều trị phối hợp.
§ HbA1c (%) ở tuần thứ 18. II HbA1c (%) ở tuần thứ 24.
# HbA1c (%) ở tuần thứ 26.
¶ Giá trị trung bình bình phương tối thiểu được điều chỉnh theo sự sử dụng metformin ở lần thăm khám thứ 1 (có/ không), theo sự sử dụng insulin ở lần thăm khám thứ 1 (insulin trộn sẵn so với không trộn sẵn [tác dụng trung bình hoặc tác dụng kéo dài]) và giá trị ban đầu. Điều trị theo phân tầng (sử dụng metformin và insulin) tương tác là không có ý nghĩa (p > 0,10).
Một nghiên cứu đối chứng với hoạt chất (metformin) trong 24 tuần đã được thiết kế để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày (N=528) so với metformin (N=522) ở những bệnh nhân có đường huyết không được kiểm soát đầy đủ bằng chế độ ăn và tập luyện và những bệnh nhân không được điều trị chống tăng đường huyết
(không điều trị ít nhất trong 4 tháng). Liều trung bình của metformin là khoảng 1.900 mg/ngày. Sự giảm HbA1c so với giá trị ban đầu trung bình 7,2% là -0,43% đối với sitagliptin và -0,57% đối với metformin (Phân tích theo đề cương). Tỷ lệ chung về các phản ứng bất lợi về tiêu hóa được xem là có liên quan đến thuốc ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin là 2,7% so với 12,6% ở bệnh nhân điều trị bằng metformin. Tỷ lệ hạ đường huyết không khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm điều trị (sitagliptin 1,3%; metformin 1,9%). Thể trọng giảm so với ban đầu ở cả hai nhóm điều trị (sitagliptin -0,6 kg; metformin -1,9 kg).
Trong một nghiên cứu so sánh hiệu quả và tính an toàn của việc bổ sung sitagliptin 100 mg, 1 lần/ngày hoặc glipizide (một sulphonylurea) ở những bệnh nhân có đường huyết không được kiểm soát đầy đủ bằng metformin đơn trị liệu, sitagliptin tương tự như glipizide trong việc làm giảm HbA1c. Liều glipizide trung bình được sử dụng ở nhóm dùng thuốc so sánh là 10 mg/ngày với khoảng 40% bệnh nhân cần liều glipizide ≤ 5 mg/ngày trong suốt nghiên cứu. Tuy nhiên, số bệnh nhân ngừng trị liệu do thiếu hiệu quả ở nhóm dùng sitagliptin nhiều hơn so với nhóm dùng glipizide.
Đã quan sát thấy sự giảm trung bình đáng kể về thể trọng so với ban đầu ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin so với mức tăng cân đáng kể ở những bệnh nhân dùng glipizide (-1,5 so với +1,1 kg). Trong nghiên cứu này, tỷ lệ proinsulin/insulin, một chỉ số về hiệu quả của sự tổng hợp và phóng thích insulin, đã được cải thiện với điều trị bằng
sitagliptin và suy giảm với điều trị bằng glipizide. Tỷ lệ hạ đường huyết ở nhóm dùng sitagliptin (4,9%) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng glipizide (32,0%).
Một nghiên cứu đối chứng với giả dược trong 24 tuần bao gồm 660 bệnh nhân đã được thiết kế để đánh giá hiệu quả giảm liều insulin và độ an toàn của sitagliptin (100 mg, 1 lần/ngày) khi thêm vào trị liệu với insulin glargine có hoặc không có metformin (ít nhất là 1.500 mg) trong khi tăng cường điều trị bằng insulin. HbA1c ban đầu là 8,74% và liều
insulin ban đầu là 37 đơn vị quốc tế (IU)/ngày. Các bệnh nhân được hướng dẫn chuẩn độ liều insulin glargine dựa trên giá trị glucose lúc đói của máu lấy từ đầu ngón tay. Ở tuần thứ 24, liều insulin tăng hàng ngày là 19 IU/ngày ở những bệnh nhân được điều trị bằng sitagliptin và 24 IU/ngày ở những bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Mức giảm HbA1c ở những bệnh nhân được điều trị bằng sitagliptin và insulin (có hoặc không có metformin) là -1,31% so với -0,87% ở những bệnh nhân được điều trị bằng giả dược và insulin (có hoặc không có metformin), sự khác biệt là -0,45% [khoảng tin cậy 95%: -0,60, -0,29]. Tỷ lệ hạ đường huyết là 25,2% ở những bệnh nhân điều trị bằng sitagliptin và insulin (có hoặc không có metformin) và 36,8% ở những bệnh nhân điều trị bằng giả dược và insulin (có hoặc không có metformin). Sự khác biệt chủ yếu là do tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm dùng giả dược đã bị 3 đợt hạ đường huyết trở lên cao hơn (9,4 so với 19,1%). Không có sự khác biệt về tỷ lệ hạ đường huyết nặng.
Một nghiên cứu so sánh sitagliptin liều 25 hoặc 50 mg, 1 lần/ngày với glipizide liều 2,5 đến 20 mg/ngày đã được thực hiện ở những bệnh nhân suy thận từ trung bình đến nặng. Nghiên cứu này bao gồm 423 bệnh nhân bị suy thận mạn
tính (tốc độ lọc của cầu thận ước tính < 50 ml/phút). Sau 54 tuần, mức giảm trung bình của HbA1c so với ban đầu là -0,76% với sitagliptin và -0,64% với glipizide (Phân tích theo đề cương). Trong nghiên cứu này, hồ sơ về hiệu quả và độ an toàn của sitagliptin liều 25 hoặc 50 mg, 1 lần/ngày nhìn chung tương tự như đã quan sát thấy trong các nghiên cứu đơn trị liệu khác ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Tỷ lệ hạ đường huyết ở nhóm dùng sitagliptin (6,2%) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng glipizide (17,0%). Cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm về sự thay đổi thể trọng so với ban đầu (sitagliptin -0,6 kg; glipizide +1,2 kg). Một nghiên cứu khác so sánh sitagliptin liều 25 mg, 1 lần/ngày với glipizide liều 2,5 đến 20 mg/ngày đã được thực hiện ở 129 bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) đang được thẩm phân. Sau 54 tuần, mức giảm trung bình của HbA1c so với ban đầu là -0,72% với sitagliptin và -0,87% với glipizide. Trong nghiên cứu này, hồ sơ về hiệu quả và độ an toàn của sitagliptin liều 25 mg, 1 lần/ngày nhìn chung tương tự như đã quan sát thấy trong các nghiên cứu đơn trị liệu khác ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Tỷ lệ hạ đường huyết không khác biệt đáng kể giữa các nhóm điều trị (sitagliptin 6,3%; glipizide 10,8%).
Trong một nghiên cứu khác bao gồm 91 bệnh nhân bị đái tháo đường týp 2 và suy thận mạn tính (độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút), độ an toàn và khả năng dung nạp của trị liệu bằng sitagliptin liều 25 hoặc 50 mg, 1 lần/ngày nhìn chung tương tự như với giả dược. Ngoài ra, sau 12 tuần, mức giảm trung bình của HbA1c (sitagliptin -0,59%; giả
dược -0,18%) và FPG (sitagliptin -25,5 mg/dl; giả dược -3,0 mg/dl) nhìn chung tương tự như đã quan sát thấy trong các nghiên cứu đơn trị liệu khác ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường (xem phần ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC).
TECOS là một nghiên cứu ngẫu nhiên ở 14.671 bệnh nhân trong nhóm dân số có ý định điều trị có HbA1c ≥ 6,5-8,0% với bệnh tim mạch đã xác định, được dùng sitagliptin (7.332 bệnh nhân) 100 mg/ngày (hoặc 50 mg/ngày nếu tốc độ lọc của cầu thận ước tính (eGFR) ban đầu ≥ 30 và < 50 ml/phút/1,73 m2) hoặc giả dược (7.339 bệnh nhân) được thêm
vào điều trị thông thường với mục tiêu tiêu chuẩn theo vùng đối với HbA1c và các yếu tố nguy cơ tim mạch. Những bệnh nhân có eGFR < 30 ml/phút/1,73 m2 không được đưa vào nghiên cứu. Nhóm bệnh nhân nghiên cứu bao gồm
2.004 bệnh nhân ≥ 75 tuổi và 3.324 bệnh nhân suy thận (eGFR < 60 ml/phút/1,73 m2). Trong quá trình nghiên cứu, sự khác biệt trung bình ước tính (độ lệch chuẩn, SD) tổng thể về HbA1c giữa nhóm dùng sitagliptin và nhóm dùng giả dược là 0,29% (0,01), khoảng tin cậy (CI) 95% (-0,32, -0,27); p < 0,001.
Tiêu chí chính về tim mạch là tổng hợp của sự xuất hiện đầu tiên về tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ không tử vong, hoặc nhập viện do đau thắt ngực không ổn định. Tiêu chí thứ hai về tim mạch bao gồm sự xuất hiện đầu tiên về tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, hoặc đột quỵ không tử vong; sự xuất
hiện đầu tiên của các thành phần riêng lẻ của tiêu chí tổng hợp chính; tử vong do mọi nguyên nhân và nhập viện do suy tim sung huyết. Sau thời gian theo dõi trung bình 3 năm, sitagliptin, khi được thêm vào trị liệu thông thường, đã không làm tăng nguy cơ mắc các biến cố tim mạch nặng hoặc nguy cơ nhập viện do suy tim so với trị liệu thông
thường mà không dùng sitagliptin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 (Bảng 3).
Bảng 3. Tỷ lệ về tổng hợp các tác động trên tim mạch và các tác động then chốt thứ cấp
| |
Sitagliptin 100 mg |
Giả dược |
Tỷ số nguy cơ (Khoảng tin cậy 95%) |
Giá trị p† |
| N (%) |
Tỷ lệ mắc/100 bệnh nhân- năm*
|
N (%) |
Tỷ lệ mắc/100 bệnh nhân- năm*
|
| Phân tích ở nhóm dân số có ý định điều trị |
| Số bệnh nhân |
7.332 |
7.339 |
0,98 (0,89- 1,08) |
|
| TiÍu chí tổng hợp chính (Tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ không tử vong, hoặc nhập viện do đau thắt ngực không ổn định |
839 (11,4) |
4,1 |
851 (11,6) |
4,2 |
< 0,001 |
| Tiêu chí tổng hợp phụ (Tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, hoặc đột quỵ không tử vong) |
745 (10,2) |
3,6 |
746 (10,2) |
3,6 |
0,99 (0,89- 1,10) |
< 0,001 |
| Tác động thứ cấp |
Tử vong do tim mạch |
380 (5,2) |
1,7 |
366 (5,0) |
1,7 |
1,03 (0,89-1,19) |
0,711 |
Tất cả các trường hợp nhồi máu cơ tim (tử vong và không tử vong) |
300 (4,1) |
1,4 |
316 (4,3) |
1,5 |
0,95 (0,81-1,11) |
0,487 |
Nhập viện do đau thắt ngực không ổn định |
116 (1,6) |
0,5 |
129 (1,8) |
0,6 |
0,90 (0,70-1,16) |
0,419 |
Tử vong do mọi nguyên nhân |
547 (7,5) |
2,5 |
537 (7,3) |
2,5 |
1,01 (0,90- 1,14) |
0,875 |
Nhập viện do suy tim‡ |
228 (3,1) |
1,1 |
229 (3,1) |
1,1 |
1,00 (0,83- 1,20) |
0,983 |
* Tỷ lệ mắc/100 bệnh nhân-năm được tính là 100 × (tổng số bệnh nhân có ≥ 1 biến cố trong thời gian sử dụng trên tổng số bệnh nhân-năm theo dõi).
† Dựa trên mô hình Cox phân tầng theo vùng. Đối với các tiêu chí tổng hợp, giá trị p tương ứng với một thử nghiệm không thấp kém hơn để cho thấy rằng tỷ số nguy cơ dưới 1,3. Đối với tất cả các tiêu chí khác, giá trị p tương ứng với một thử nghiệm sự khác biệt về tỷ số nguy cơ.
‡ Phân tích nhập viện do suy tim đã được điều chỉnh theo tiền sử suy tim lúc ban đầu.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.