TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỊ THUỐC
Thuốc kháng vitamin K: Nguy cơ tăng tác dụng của thuốc đối kháng vitamin K và nguy cơ chảy máu khi dùng với paracetamol liều tối đa (4g/ngày) trong ít nhất 4 ngày. Theo dõi INR thường xuyên hơn, có thể điều chỉnh liều lượng của thuốc đối kháng Vitamin K trong quá trình điều trị bằng paracetamol và sau khi ngừng thuốc.
Thận trọng khi sử dụng paracetamol đồng thời với flucloxacillin do làm tăng nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa khoảng trống anion cao (AMTAE), đặc biệt ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ thiếu hụt glutathion như suy thận nặng, nhiễm trùng huyết, suy dinh dưỡng hoặc nghiện rượu mạn tính. Bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ để phát hiện sự xuất hiện của AMTAE, bằng cách xét nghiệm 5-oxoproline trong nước tiểu.
Ảnh hưởng đến các xét nghiệm: Dùng paracetamol có thể ảnh hưởng đến lượng acid uric trong máu theo phương pháp acid phosphat và lượng đường trong máu theo phương pháp glucose oxidase-peroxidase.
Dùng parcetamol làm sai lệch kết quả đo acid uric trong máu bằng phương pháp acid phosphotungsic.
Hãy thông báo cho bác sỹ hoặc dược sỹ nếu trẻ đang uống hoặc gần đây có uống bất kì thuốc nào khác kể cả các thuốc không kê đơn.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC
Cũng như các thuốc khác, paracetamol có thể gây ra các tác dụng phụ, mặc dù không phải bệnh nhân nào cũng gặp phải. Nếu bạn thấy bất kỳ tác dụng phụ nào không được đề cập trong tờ hướng dẫn này, hoặc bất kỳ tác dụng phụ
nào trở nên trầm trọng hãy thông báo cho bác sỹ hoặc dược sỹ.
– Một số ít trường hợp phản ứng quá mẫn như sốc phản vệ, hạ huyết áp (là triệu chứng của sốc phản vệ), phù mạch, ban đỏ, mày đay, phát ban trên da, ban xuất huyết đã được báo cáo. Nếu xuất hiện các triệu chứng này phải ngừng thuốc này và các loại thuốc liên quan.
– Rất hiếm trường hợp phản ứng da nghiêm trọng (ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính, hoại tử biểu bì nhiễm độc
và hội chứng Stevens-Johnson) đã được báo cáo.
– Đã có báo cáo về những trường hợp rất hiếm gặp về giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu và giảm bạch cầu.
– Đã có báo cáo trường hợp tiêu chảy, đau bụng, tăng men gan, tăng hoặc giảm INR. Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Quá liều:
Các triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu tiên bao gồm: Buồn nôn, nôn, chán ăn, xanh xao, khó chịu, co giật và đau bụng. Dùng quá liều paracetamol từ 10 g trở lên ở người lớn hoặc trên 150 mg/kg thể trọng có thể gây phá hủy tế bào gan, hoại tử gan hoàn toàn và không hồi phục, suy gan, nhiễm toan chuyển hóa, bệnh lý não dẫn đến hôn mê và tử vong.
Đồng thời, tăng nồng độ các enzyme transaminase gan (ASAT, ALAT), lactat dehydrogenase và bilirubin dẫn đến tăng nồng độ prothrombin và có thể xảy ra từ 12 đến 48 giờ sau khi uống quá liều. Các triệu chứng lâm sàng của tổn
thương gan thường thấy sau 1 đến 2 ngày, và nặng nhất sau 3 đến 4 ngày.
Xử trí:
Chuyển ngay đến bệnh viện.
Đo nồng độ paracetamol trong huyết tương sau khi dùng thuốc ít nhất 4 giờ.
Rửa dạ dày để loại trừ ngay thuốc đã uống. Dùng càng sớm càng tốt chất giải độc N – Acetylcystein uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỊ THUỐC
Thuốc kháng vitamin K: Nguy cơ tăng tác dụng của thuốc đối kháng vitamin K và nguy cơ chảy máu khi dùng với paracetamol liều tối đa (4g/ngày) trong ít nhất 4 ngày. Theo dõi INR thường xuyên hơn, có thể điều chỉnh liều lượng của thuốc đối kháng Vitamin K trong quá trình điều trị bằng paracetamol và sau khi ngừng thuốc.
Thận trọng khi sử dụng paracetamol đồng thời với flucloxacillin do làm tăng nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa khoảng trống anion cao (AMTAE), đặc biệt ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ thiếu hụt glutathion như suy thận nặng, nhiễm trùng huyết, suy dinh dưỡng hoặc nghiện rượu mạn tính. Bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ để phát hiện sự xuất hiện của AMTAE, bằng cách xét nghiệm 5-oxoproline trong nước tiểu.
Ảnh hưởng đến các xét nghiệm: Dùng paracetamol có thể ảnh hưởng đến lượng acid uric trong máu theo phương pháp acid phosphat và lượng đường trong máu theo phương pháp glucose oxidase-peroxidase.
Dùng parcetamol làm sai lệch kết quả đo acid uric trong máu bằng phương pháp acid phosphotungsic.
Hãy thông báo cho bác sỹ hoặc dược sỹ nếu trẻ đang uống hoặc gần đây có uống bất kì thuốc nào khác kể cả các thuốc không kê đơn.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC
Cũng như các thuốc khác, paracetamol có thể gây ra các tác dụng phụ, mặc dù không phải bệnh nhân nào cũng gặp phải. Nếu bạn thấy bất kỳ tác dụng phụ nào không được đề cập trong tờ hướng dẫn này, hoặc bất kỳ tác dụng phụ nào trở nên trầm trọng hãy thông báo cho bác sỹ hoặc dược sỹ.
– Một số ít trường hợp phản ứng quá mẫn như sốc phản vệ, hạ huyết áp (là triệu chứng của sốc phản vệ), phù mạch, ban đỏ, mày đay, phát ban trên da, ban xuất huyết đã được báo cáo. Nếu xuất hiện các triệu chứng này phải ngừng thuốc này và các loại thuốc liên quan.
– Rất hiếm trường hợp phản ứng da nghiêm trọng (ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính, hoại tử biểu bì nhiễm độc và hội chứng Stevens-Johnson) đã được báo cáo.
– Đã có báo cáo về những trường hợp rất hiếm gặp về giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu và giảm bạch cầu.
– Đã có báo cáo trường hợp tiêu chảy, đau bụng, tăng men gan, tăng hoặc giảm INR. Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Quá liều:
Các triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu tiên bao gồm: Buồn nôn, nôn, chán ăn, xanh xao, khó chịu, co giật và đau bụng. Dùng quá liều paracetamol từ 10 g trở lên ở người lớn hoặc trên 150 mg/kg thể trọng có thể gây phá hủy tế bào gan, hoại tử gan hoàn toàn và không hồi phục, suy gan, nhiễm toan chuyển hóa, bệnh lý não dẫn đến hôn mê và tử vong. Đồng thời, tăng nồng độ các enzyme transaminase gan (ASAT, ALAT), lactat dehydrogenase và bilirubin dẫn đến tăng nồng độ prothrombin và có thể xảy ra từ 12 đến 48 giờ sau khi uống quá liều. Các triệu chứng lâm sàng của tổn thương gan thường thấy sau 1 đến 2 ngày, và nặng nhất sau 3 đến 4 ngày.
Xử trí:
Chuyển ngay đến bệnh viện.
Đo nồng độ paracetamol trong huyết tương sau khi dùng thuốc ít nhất 4 giờ.
Rửa dạ dày để loại trừ ngay thuốc đã uống.
Dùng càng sớm càng tốt chất giải độc N – Acetylcystein uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
Điều trị triệu chứng.
Tiến hành xét nghiệm gan khi bắt đầu điều trị và sau mỗi 24 giờ. Thông thường, các transaminase gan sẽ trở về mức bình thường sau 1 – 2 tuần.
Tiến hành xét nghiệm gan khi bắt đầu điều trị và sau mỗi 24 giờ. Thông thường, các transaminase gan sẽ trở về mức bình thường sau 1 – 2 tuần.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.