TƯƠNG TÁC VÀ TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC
Nhiều nghiên cứu về tương tác thuốc với tadalafil 10 mg và/hoặc 20 mg đã được thực hiện như mô tả dưới đây. Trong các nghiên cứu này, liều tadalafil sử dụng chỉ là 10 mg, do đó các triệu chứng lâm sàng liên quan đến việc sử dụng liều cao hơn để đánh giá tương tác thuốc không thể liệt kê hoàn toàn được.
Tương tác thuốc
Tác động của các thuốc khác đối với tadalafil
Các chất ức chế Cytochrome P450 Tadalafil được chuyển hoá chủ yếu bởi CYP3A4. Một chất ức chế chọn lọc CYP3A4, ketoconazole (200 mg mỗi ngày) khi dùng phối hợp với tadalafil làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (10 mg) gấp đôi và Cmax 15% khi so sánh với giá trị AUC và Cmax của tadalafil (10 mg) chỉ sử dụng đơn độc. Ketoconazole (400 mg mỗi ngày) làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (20 mg) gấp 4 lần và Cmax 22%. Ritonavir, một chất ức chế protease (200 mg dùng hai lần mỗi ngày), là chất ức chế CYP3A4, CYP2C9, CYP2C19, và CYP2D6, làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (20 mg) gấp 2 lần mà không thay đổi về Cmax. Mặc dù các tương tác chuyên biệt chưa được nghiên cứu, một vài chất ức chế enzym protease khác, như saquinavir, và những chất ức chế CYP3A4 khác, như erythromycin, clarithromycin, itraconazole và nước ép quả bưởi khi sử dụng đồng thời với tadalafil cần phải thận trọng vì chúng có thể làm tăng nồng độ của tadalafil trong huyết tương (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Như vậy, tỷ lệ các tác dụng không mong muốn liệt kê trong mục “Tác dụng không mong muốn” cũng có thể tăng. Các chất chuyên chở
Vai trò của các chất chuyên chở (ví dụ như p-glycoprotein) với tadalafil chưa được biết. Do đó có khả
năng tương tác thuốc nếu các chất chuyên chở bị ức chế.
Các chất cảm ứng Cytochrome P450
Một chất cảm ứng CYP3A4, rifampicin, làm giảm diện tích dưới đường cong (AUC) tadalafil tới 88% khi so sánh với giá trị AUC của tadalafil (10 mg) sử dụng đơn độc. Việc giảm diện tích dưới đường cong có thể làm giảm tác dụng của tadalafil, tuy nhiên mức độ giảm chưa được biết trước. Các chất cảm ứng CYP3A4 khác như phenobarbital, phenytoin và carbamazepine cũng có thể làm giảm nồng độ của tadalafil trong huyết tương.
Ảnh hưởng của tadalafil đối với những thuốc khác
Nitrates
Kết quả của các thử nghiệm nghiên cứu lâm sàng cho thấy tadalafil (5 mg, 10 mg và 20 mg) có biểu hiện làm tăng tác động hạ áp của nitrates. Do đó, chống chỉ định sử dụng tadalafil cho bệnh nhân đang dùng bất cứ dạng thuốc nào của nitrate hữu cơ ( xem mục “ Chống chỉ định”). Dựa trên kết quả của một thử nghiệm lâm sàng, trong đó 150 đối tượng được chỉ định dùng liều hằng ngày tadalafil 20 mg trong 7 ngày và 0,4 mg nitroglycerin đặt dưới lưỡi tại các thời điểm khác nhau, sự tương tác thuốc kéo dài trên 24 giờ và không thấy sự tương tác nữa 48 tiếng sau khi uống tadalafil liều cuối cùng. Vì vậy, trong trường hợp bệnh nhân đã sử dụng tadalafil (2,5 mg – 20 mg), và chỉ định nitrate được cho là giải pháp cần thiết trong tình huống đe dọa mạng sống, nên lưu ý là việc sử dụng nitrate cần ít nhất là 48 tiếng sau liều sử dụng tadalafil cuối cùng. Trong những trường hợp như vậy, nitrate chỉ được sử dụng với sự giám sát chặt chẽ bằng các máy thích hợp để theo dõi về huyết động học.
Các thuốc hạ huyết áp (kể cả các thuốc chẹn kênh calci) Việc sử dụng đồng thời doxazosin (4 và 8 mg mỗi ngày) với tadalafil (5 mg mỗi ngày và 20 mg liều đơn) làm tăng tác động hạ huyết áp của chất chẹn alpha này một cách rõ rệt. Tác động này kéo dài ít nhất 12 giờ và có thể có triệu chứng, bao gồm cả ngất xỉu. Vì vậy, không khuyến cáo sự kết hợp này (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Trong các nghiên cứu tương tác thuốc được thực hiện trên một số lượng giới hạn những người tình nguyện khỏe mạnh, những tác động này chưa được báo cáo với alfuzosin hoặc tamsulosin. Tuy nhiên, nên thận trọng khi sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân đang dùng bất cứ thuốc chẹn alpha nào, đặc biệt là với người già. Nên bắt đầu điều trị với liều thấp nhất và điều chỉnh tăng dần. Trong các nghiên cứu thực nghiệm về dược lý lâm sàng, khả năng tadalafil làm tăng tác động hạ huyết áp của các thuốc hạ huyết áp cũng đã được khảo sát. Các nhóm thuốc hạ huyết áp chủ yếu đã được nghiên cứu, bao gồm thuốc ức chế kênh calcium (amlodipine), thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin (ACE) (enalapril), thuốc ức chế thụ thể beta-adrenergic (metoprolol), thuốc lợi tiểu thiazide (bendrofluazide), và ức chế thụ thể angiotensin II (bao gồm các loại và liều khác nhau, dùng đơn độc hay phối hợp với thiazides, ức chế kênh calcium, ức chế thụ thể beta, và/hoặc ức chế thụ thể alpha). Tadalafil (10 mg, ngoại trừ các thử nghiệm với các chất ức chế thụ thể angiotensin II và amlodipine đã sử dụng liều 20 mg) đã không thấy có các tương tác thuốc với biểu hiện lâm sàng rõ rệt đối với bất kỳ loại nào trong nhóm này. Trong nghiên cứu về dược lý lâm sàng khác, tadalafil (20 mg) được nghiên cứu phối hợp với đến 4 nhóm thuốc điều trị cao huyết áp. Ở những đối tượng dùng nhiều loại thuốc hạ huyết áp, sự dao động về huyết áp thoáng qua xuất hiện có liên quan đến mức độ kiểm soát huyết áp. Về mặt này, những đối tượng nghiên cứu có mức huyết áp được kiểm soát tốt, thì tình trạng hạ huyết áp là tối thiểu và tương tự như ở người khỏe mạnh. Ở những đối tượng nghiên cứu mà huyết áp không được kiểm soát tốt, sự hạ huyết áp nhiều hơn, mặc dù vậy sự hạ huyết áp này không kèm theo những triệu chứng hạ huyết áp ở phần lớn đối tượng. Bệnh nhân sử dụng đồng thời tadalafil 20 mg với các loại thuốc hạ huyết áp, có lẽ sẽ có hạ huyết áp, nhưng thường
là giảm ít và không có thay đổi rõ rệt trên lâm sàng (trừ trường hợp dùng chung với chất ức chế alpha – xin đọc phần trên). Phân tích dữ liệu các thử nghiệm lâm sàng ở pha 3 cho thấy không có sự khác nhau về tác dụng ngoại ý ở bệnh nhân dùng tadalafil có kèm hay không các thuốc hạ huyết áp. Tuy nhiên, cần phải có lời khuyên thích hợp cho bệnh nhân về khả năng có thể xảy ra hạ huyết áp khi được điều trị chung với các thuốc hạ huyết áp.
Riociguat
Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy sự tăng tác dụng hạ huyết áp hệ thống khi phối hợp các chất ức chế PDE5 với riociguat. Trong các nghiên cứu lâm sàng, riociguat đã được chứng minh là làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các chất ức chế PDE5. Không có bằng chứng về hiệu quả lâm sàng đáng khích lệ khi phối hợp trong nhóm nghiên cứu. Chống chỉ định phối hợp riociguat với các chất ức chế PDE5, trong đó có tadalafil (xem mục “Chống chỉ định”).
Các cơ chất CYP1A2 (như theophylline)
Trong nghiên cứu dược lý lâm sàng, khi dùng tadalafil 10 mg chung với theophylline (một chất ức chế phosphodiesterase không chọn lọc), không thấy có tương tác về dược động học. Chỉ có một tác động về dược lực học là nhịp tim tăng nhẹ (3,5 nhịp/phút). Mặc dù tác động này không đáng kể và không gây ảnh hưởng rõ rệt trên lâm sàng ở thử nghiệm này, nhưng cũng cần cân nhắc khi sử dụng chung với các thuốc nêu trên.
Ethinylestradiol và terbutaline
Tadalafil đã được chứng minh làm tăng sinh khả dụng của ethinylestradiol dùng đường uống; kết quả cũng tương tự như vậy đối với terbutaline đường uống, mặc dù không chắc có tác động trên lâm sàng.
Rượu
Nồng độ rượu (nồng độ tối đa trung bình trong máu là 0,08%) không bị ảnh hưởng khi sử dụng đồng thời với tadalafil (10 mg và 20 mg). Ngoài ra, không quan sát thấy có thay đổi nào về nồng độ của tadalafil 3 giờ sau khi dùng thuốc đồng thời với rượu. Rượu đã được sử dụng trong thực nghiệm với cách để làm tăng tối đa tốc độ hấp thu rượu (Uống rượu lúc nhịn ăn qua đêm và không ăn trong vòng 2 giờ sau khi uống rượu). Tadalafil (20 mg) không làm tăng thêm mức độ hạ huyết áp trung bình do rượu (uống với lượng 0,7 g/kg hoặc khoảng 180 ml rượu [vodka] 40% ở nam giới nặng 80 kg) nhưng ở một vài đối tượng nghiên cứu, quan sát thấy có chóng mặt tư thế và hạ huyết áp tư thế đứng. Khi sử dụng tadalafil chung với một lượng rượu ít hơn (0,6 g/kg), quan sát thấy không có hạ huyết áp và tỷ lệ chóng mặt xảy ra với tần suất giống như khi đối tượng chỉ có uống rượu. Tác động của rượu đối với chức năng nhận thức không thay đổi khi dùng tadalafil (10 mg).
Các thuốc chuyển hóa bởi Cytochrome P450
Tadalafil không gây ra sự ức chế hay thúc đẩy có ý nghĩa lâm sàng sự thanh thải của các thuốc chuyển hóa bởi các đồng dạng CYP450. Các nghiên cứu đã khẳng định rằng tadalafil không ức chế hay cảm ứng các chất đồng dạng CYP450 như CYP3A4, CYP1A2, CYP2D6, CYP2E1, CYP2C9 và
CYP2C19.
Các cơ chất CYP2C9 (như R-warfarin)
Tadalafil (10 mg và 20 mg) không có tác động có ý nghĩa trên lâm sàng liên quan đến diện tích dưới đường cong (AUC) khi sử dụng chung với S-warfarin hay R-warfarin (cơ chất CYP2C9) cũng như tadalafil không làm thay đổi thời gian prothrombin khi dùng chung với warfarin.
Aspirin
Tadalafil (10 mg và 20 mg) không làm tăng thêm thời gian chảy máu khi dùng chung với acid acetyl salicylic.
Các thuốc điều trị đái tháo đường
Các nghiên cứu cụ thể về tương tác với các thuốc trị bệnh đái tháo đường chưa được thực
hiện.
Tương kỵ
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với thuốc
khác.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
Tóm tắt sơ lược về tính an toàn
Các tác dụng không mong muốn thông thường nhất được báo cáo ở bệnh nhân dùng tadalafil là nhức đầu, chứng khó tiêu, đau lưng và đau cơ và mức độ xảy ra tăng cùng với liều dùng tăng. Các tác dụng không mong muốn được báo cáo thường thoáng qua và nhìn chung là nhẹ hoặc trung bình.
Bảng tóm tắt các tác dụng không mong muốn
Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng không mong muốn được ghi nhận từ các báo cáo tự phát và trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược (bao gồm tổng cộng 8022 bệnh nhân sử dụng tadalafil và 4422 bệnh nhân dùng giả dược) cho điều trị rối loạn cương dương theo nhu cầu và ngày một lần và điều trị u xơ tiền liệt tuyến ngày một lần. Qui ước về tần suất: rất thường gặp (> 1/10), thường gặp (> 1/100 đến < 1/10), ít gặp (> 1/1000 đến < 1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 đến < 1/1.000) và rất hiếm gặp (< 1/10.000) và chưa được ghi nhận (không thể dự đoán từ các dữ liệu hiện có).
RẤT THƯỜNG GẶP |
THƯỜNG GẶP |
ÍT GẶP |
HIẾM GẶP |
| Rối loạn hệ thống miễn dịch |
| |
|
Các phản ứng quá mẫn |
Phù mạch2 |
| |
Đau đầu |
Chóng mặt |
Đột quỵ1 (bao gồm hiện tượng xuất huyết), ngất xỉu, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua 1, đau nửa đầu 2, động kinh, mất trí nhớ, thoáng qua |
| Rối loạn mắt |
| |
|
Nhìn mờ, những cảm giác được mô tả như đau tại mắt |
Khiếm khuyết thị giác, sưng mí mắt, sung huyết kết mạc, bệnh lý thần kinh thị giác do thiếu máu cục bộ vùng trước không do động mạch (NAION)2, tắc mạch võng mạc2
|
| Rối loạn tai và tai trong |
| |
|
Chứng ù tai |
Mất thính lực đột ngột |
| Rối loạn tim1 |
| |
|
Nhịp tim nhanh, đánh trống ngực |
Nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định 2, loạn nhịp thất 2 |
| Rối loạn hệ mạch |
| |
Đỏ mặt |
Hạ huyết áp 3, Tăng huyết áp |
|
| Rối loạn hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất |
| |
Nghẹt mũi |
Khó thở, chảy máu cam |
|
| Rối loạn hệ tiêu hoá |
| |
Rối loạn hệ tiêu hoá |
Đau bụng, nôn, buồn nôn, trào ngược dạ dày thực quản |
|
| Rối loạn da và mô dưới da |
| |
|
Phát ban |
Chứng mày đay, hội chứng Stevens – Johnson 2, viêm da tróc vảy 2, tăng tiết mồ hôi |
| Rối loạn xương, mô liên kết và mô cơ xương |
| |
Đau lưng, chứng đau cơ, đau các đầu xương |
|
|
| Rối loạn thận và tiết niệu |
| |
|
Đái ra máu |
|
| Rối loạn vú và hệ sinh sản |
| |
|
Cương cứng dương vật kéo dài |
Chứng cương dương2 chảy máu dương vật, máu trong tinh dịch |
| Rối loạn chung và tình trạng đường dùng tại chỗ |
| |
|
Đau ngực 1, phù ngoại vi, mệt mỏi |
Phù mặt 2, ngừng tim đột ngột 1,2 |
(1) Hầu hết các bệnh nhân đã có các yếu tố nguy cơ tim mạch từ trước (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
(2) Các biến cố bất lợi được báo cáo qua theo dõi hậu mãi không được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng đối chứng giả dược.
(3) Được ghi nhận thường xuyên hơn ở bệnh nhân dùng tadalafil khi đã uống các thuốc hạ huyết áp.
Mô tả các biến cố bất lợi chọn lọc
Sự tăng nhẹ tỉ lệ bất thường về điện tim, nhịp tim chậm xoang nguyên phát, đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với tadalafil ngày một lần so với giả dược. Hầu hết các bất thường về điện tim này không liên quan với các biến cố bất lợi.
Các nhóm dân số đặc biệt khác
Dữ liệu về những bệnh nhân trên 65 tuổi dùng tadalafil ở các thử nghiệm lâm sàng còn hạn chế.
Trong các thử nghiệm lâm sàng với tadalafil dùng theo nhu cầu để điều trị rối loạn cương dương, tiêu chảy đã được báo cáo thường xuyên hơn ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Những liều đơn đến 500 mg tadalafil đã được thử nghiệm trên người khoẻ mạnh và liều nhiều lần mỗi ngày lên đến 100 mg đã được dùng cho bệnh nhân. Các biến cố bất lợi xảy ra cũng tương tự như những biến cố của các liều thấp hơn. Trong trường hợp quá liều, các biện pháp hỗ trợ tiêu chuẩn cần được thực hiện tùy theo yêu cầu. Thẩm tách máu tác động không đáng kể đến sự thải trừ tadalafil.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.