ÉLOTADA 20

Thuốc  Élotada do Công ty Cổ phần Éloge France Việt Nam sản xuất có thành phần chính Tadalafil là thuốc điều trị rối loạn cương dương..

Số đăng ký VD-34830-20
Quy cách Hộp 2 vỉ x 4 viên
Hoạt chất chính Tadalafil 20mga
Dạng bào chế  Viên nén bao phim
Nhà sản xuất Éloge France
Nước sản xuất Việt Nam
Đối tượng sử dụng Người lớn
Hạn sử dụng  36 tháng kể từ ngày sản xuất

THÀNH PHẦN CÔNG THỨC THUỐC
Mỗi viên nén bao phim Élotada 20 chứa:
Thành phần dược chất: Tadalafil …………………………………………………… 20 mg
Thành phần tá dược: Cellulose vi tinh thể M101, Betacyclodextrin, Tinh bột ngô, Povidon (Kollidon
30), Magnesi stearat, Natri croscarmellose, Silicon dioxyd, Opadry white, Màu oxyd sắt vàng …vừa đủ 1 viên

DẠNG BÀO CHẾ
Élotada 20: Viên nén dài bao phim màu vàng, hai mặt trơn.

CHỈ ĐỊNH
Điều trị rối loạn cương dương ở nam giới trưởng thành.
Cần có hoạt động kích thích tình dục thì tadalafil mới có hiệu quả.
Không chỉ định tadalafil cho phụ nữ

CÁCH DÙNG VÀ LIỀU DÙNG
Cách dùng:
Dùng đường uống, uống cùng hoặc không cùng với thức ăn.
Liều dùng:
Dùng cho nam giới trưởng thành
Liều dùng tối đa được khuyến cáo là 20 mg, được dùng trước khi dự tính sinh hoạt tình dục, áp dụng
khi liều tadalafil 10 mg không đạt hiệu quả hữu hiệu. Có thể sử dụng ít nhất 30 phút trước khi sinh
hoạt tình dục. Số lần sử dụng thuốc tối đa là một lần mỗi ngày. Không khuyến cáo sử dụng hàng
ngày.
Tadalafil được chứng minh có hiệu quả lên đến 36 giờ sau khi uống và có tác dụng sớm lúc 16 phút
sau khi dùng thuốc.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Bệnh nhân cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân nam bị suy thận
Không cần chỉnh liều ở những bệnh nhân suy thận nhẹ hay trung bình. Với bệnh nhân bị suy thận
nặng, liều khuyên dùng tối đa là 10 mg.
Bệnh nhân nam bị suy gan
Các dữ liệu về an toàn của tadalafil trên bệnh nhân suy gan nặng còn hạn chế (nhóm C Child- Pugh);
nếu kê toa, bác sĩ điều trị cần phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ của từng trường hợp.
Không có sẵn dữ liệu về việc sử dụng liều cao hơn 10 mg tadalafil cho bệnh nhân suy gan.
Bệnh nhân nam bị đái tháo đường
Không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân đái tháo đường.
Trẻ em
Không sử dụng tadalafil ở trẻ em để điều trị rối loạn cương dương.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Mẫn cảm với hoạt chất hay với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, tadalafil có biểu hiện làm tăng tác động hạ huyết áp của các nitrates. Đây được cho là kết quả từ tác động phối hợp của nitrates và tadalafil trên chu trình nitric oxide/cGMP. Vì vậy, chống chỉ định sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân đang sử dụng các chất nitrates hữu cơ dưới bất cứ dạng nào (xem mục “Tương tác và tương kỵ của thuốc”).
Tadalafil không được dùng cho bệnh nhân nam bị bệnh tim mạch mà hoạt động tình dục không được
khuyến cáo. Thầy thuốc cần lưu ý đến nguy cơ bệnh tim tiềm ẩn do hoạt động tình dục ở những bệnh
nhân có sẵn bệnh tim mạch từ trước.
Những nhóm bệnh nhân có bệnh tim mạch sau đây đã không được trải qua các thử nghiệm lâm sàng
và do đó chống chỉ định sử dụng tadalafil với:
– Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim trong vòng 90 ngày.
– Bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không ổn định hay có cơn đau thắt ngực xảy ra trong khi giao hợp.
– Bệnh nhân thuộc nhóm 2 theo xếp loại của Hội Tim New York hoặc là suy tim trở nặng hơn trong
vòng 6 tháng vừa qua.
– Bệnh nhân bị loạn nhịp tim không kiểm soát được, huyết áp thấp (< 90/50 mmHg), hay tăng huyết
áp không kiểm soát được.
– Bệnh nhân bị đột quỵ trong vòng 6 tháng vừa qua.
Chống chỉ định tadalafil cho bệnh nhân mất thị lực một bên mắt do bệnh lý thần kinh thị giác do thiếu
máu cục bộ vùng trước không do động mạch (NAION), bất kể trước đây có hay không có liên quan
đến sự phơi nhiễm chất ức chế PDE5 (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Chống chỉ định việc dùng đồng thời các thuốc ức chế PDE5, bao gồm tadalafil, với các chất kích thích guanylate cyclase, như riociguat, vì nó có thể có khả năng dẫn đến hạ huyết áp có triệu chứng (xem mục “Tương tác và tương kỵ của thuốc”).

CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
Trước khi điều trị với tadalafil
Cần phải hỏi bệnh sử và khám thực thể để chẩn đoán rối loạn cương dương cũng như xác định các
nguyên nhân tiềm ẩn kèm theo, trước khi tiến hành kê toa sử dụng các loại dược phẩm.
Trước khi bắt đầu bất kỳ phương pháp điều trị nào đối với rối loạn cương, thầy thuốc cần lưu ý đến
tình trạng tim mạch của bệnh nhân vì có một mức độ về nguy cơ tim mạch đi kèm với hoạt động tình
dục. Tadalafil có đặc tính giãn mạch, kết quả là huyết áp giảm nhưng ở mức độ nhẹ và thoáng qua
(xem mục “Đặc tính dược lực học”) và như vậy sẽ làm tăng thêm tiềm năng tác động hạ huyết áp
của các nitrate (Xem mục “Chống chỉ định”).
Việc đánh giá rối loạn cương dương cần phải xem xét cả những nguyên nhân tiềm ẩn kèm theo để
xác định phương pháp điều trị thích hợp sau khi đã đánh giá về bệnh lý của bệnh nhân. Hiện nay
không biết là tadalafil có hiệu quả hay không trên những bệnh nhân có phẫu thuật vùng chậu hay
phẫu thuật tuyến tiền liệt triệt để không giữ dây thần kinh.
Về tim mạch
Đã có những báo cáo sau khi đưa thuốc ra thị trường và/hoặc trong các thử nghiệm lâm sàng về các
biến cố tim mạch nghiêm trọng, bao gồm nhồi máu cơ tim, tử vong đột ngột do bệnh tim, đau thắt
ngực không ổn định, loạn nhịp thất, đột quỵ, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, đau ngực, đánh trống
ngực và nhịp tim nhanh. Hầu hết bệnh nhân gặp những hiện tượng trên đều đã có các yếu tố nguy
cơ tim mạch từ trước. Tuy nhiên, khó có thể xác định dứt khoát xem các hiện tượng nêu trên có liên
quan trực tiếp tới những yếu tố nguy cơ này không, tới sử dụng tadalafil, tới hoạt động tình dục hoặc
là do phối hợp của những yếu tố này hoặc các yếu tố khác nữa. Những bệnh nhân đang dùng thuốc nhóm chẹn alpha, khi dùng đồng thời với tadalafil có thể có hạ huyết áp triệu chứng ở một vài bệnh nhân (xem mục “Tương tác và tương kỵ của thuốc”). Vì vậy khuyến cáo không dùng đồng thời tadalafil và doxazosin.
Thị lực
Khiếm thị và các trường hợp bị bệnh lý thần kinh thị giác do thiếu máu cục bộ vùng trước không do động mạch (NAION) đã được báo cáo có liên quan tới việc dùng tadalafil và các chất ức chế PDE5
khác. Phân tích dữ liệu quan sát cho thấy có tăng nguy cơ mắc NAION cấp tính ở nam giới bị rối loạn
cương dương sau khi dùng tadalafil hoặc các chất ức chế PDE5 khác. Vì điều này có thể có liên quan với tất cả các bệnh nhân dùng tadalafil, trong trường hợp xuất hiện khiếm thị đột ngột, bệnh nhân nên dừng thuốc và tham khảo ý kiến của bác sỹ ngay lập tức (Xem mục “ Chống chỉ định”).
Giảm hoặc mất thính lực đột ngột
Các trường hợp mất thính lực đột ngột đã được báo cáo sau khi sử dụng tadalafil. Mặc dù các yếu
tố nguy cơ khác đã có trong một số trường hợp (như tuổi tác, bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp
và tiền sử bị mất thính lực trước đây) nên khuyên bệnh nhân ngừng dùng tadalafil và cần được chăm
sóc y tế ngay trong trường hợp giảm hoặc mất thính lực đột ngột.
Suy thận
Do diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil tăng, kinh nghiệm lâm sàng hạn chế, và không có
khả năng loại bỏ tác động bởi thẩm tách; nếu kê đơn tadalafil, bác sĩ nên xem xét đánh giá cẩn thận
lợi ích và nguy cơ cho từng bệnh nhân. Ở bệnh nhân suy thận nặng, liều tối đa khuyến cáo dùng là
10 mg. Không khuyến cáo dùng tadalafil 20 mg cho bệnh nhân suy thận nặng.
Suy gan
Các dữ liệu lâm sàng về tính an toàn của việc dùng tadalafil đơn liều trong những nhóm bệnh nhân
bị suy gan nặng (Nhóm C Child-Pugh) còn hạn chế. Nếu có chỉ định kê toa cho bệnh nhân này, thầy
thuốc cần phải cân nhắc kỹ giữa lợi ích và nguy cơ của từng trường hợp. Chưa có dữ liệu về sử
dụng liều cao hơn 10 mg tadalafil ở những bệnh nhân suy gan.
Cương cứng dương vât kéo dài và biến dạng giải phẫu dương vật
Bệnh nhân bị cương dương vật kéo dài 4 giờ hay lâu hơn, cần khuyến cáo phải được trợ giúp về y
khoa ngay. Nếu cương cứng dương vật kéo dài không được điều trị ngay, có thể tổn hại mô dương
vật và mất vĩnh viễn khả năng cương.
Tadalafil cần được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có biến dạng giải phẫu dương vật (như
dương vật gập góc, bệnh xơ thể hang hay bệnh Peyronie) hay ở những bệnh nhân có những bệnh
lý dễ gây ra cương đau dương vật (như bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, đa u tủy hoặc bệnh bạch
cầu).
Sử dụng cùng các chất ức chế CYP3A4
Cần thận trọng khi kê toa tadalafil cho những bệnh nhân đang dùng các chất ức chế CYP3A4 mạnh
(như ritonavir, saquinavir, ketoconazole, itraconazole và erythromycin) vì đã quan sát thấy diện tích
dưới đường cong (AUC) của tadalafil tăng khi dùng phối hợp với các thuốc này (Xem mục “Tương
tác và tương kỵ của thuốc”).
Tadalafil và các chất điều trị rối loạn cương dương khác
Tính an toàn và hiệu quả khi phối hợp tadalafil với các chất ức chế PDE5 hoặc các thuốc khác để
điều trị rối loạn cương chưa được nghiên cứu. Do đó khuyến cáo không nên dùng phối hợp tadalafil
với các loại thuốc này.

SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Không có chỉ định tadalafil cho phụ nữ.
Phụ nữ có thai
Hiện chưa có nhiều dữ liệu về việc sử dụng tadalafil ở phụ nữ mang thai. Những nghiên cứu trên
động vật cho thấy thuốc không gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự mang thai, sự phát triển của
phôi hay bào thai, quá trình sinh nở hoặc sau sinh (xem mục “ Các dữ liệu an toàn tiền lâm sàng”).
Thận trọng nhất là tránh dùng tadalafil trong khi mang thai.
Phụ nữ cho con bú
Dữ liệu về độc tính, dược lực học ở động vật cho thấy tadalafil bài tiết vào sữa. Nguy cơ đối với trẻ
đang bú mẹ là không thể loại trừ. Không nên sử dụng tadalafil trong thời gian cho con bú.

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC
Tadalafil có tác động không đáng kể trên khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Mặc dù trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ các báo cáo về chóng mặt ở nhóm dùng giả dược và
tadalafil là tương tự như nhau, bệnh nhân vẫn nên lường trước về phản ứng của tadalafil đối với họ
trước khi lái xe hay vận hành máy móc.

TƯƠNG TÁC VÀ TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC
Nhiều nghiên cứu về tương tác thuốc với tadalafil 10 mg và/hoặc 20 mg đã được thực hiện như mô tả dưới đây. Trong các nghiên cứu này, liều tadalafil sử dụng chỉ là 10 mg, do đó các triệu chứng lâm sàng liên quan đến việc sử dụng liều cao hơn để đánh giá tương tác thuốc không thể liệt kê hoàn toàn được.
Tương tác thuốc
Tác động của các thuốc khác đối với tadalafil
Các chất ức chế Cytochrome P450 Tadalafil được chuyển hoá chủ yếu bởi CYP3A4. Một chất ức chế chọn lọc CYP3A4, ketoconazole (200 mg mỗi ngày) khi dùng phối hợp với tadalafil làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (10 mg) gấp đôi và Cmax 15% khi so sánh với giá trị AUC và Cmax của tadalafil (10 mg) chỉ sử dụng đơn độc. Ketoconazole (400 mg mỗi ngày) làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (20 mg) gấp 4 lần và Cmax 22%. Ritonavir, một chất ức chế protease (200 mg dùng hai lần mỗi ngày), là chất ức chế CYP3A4, CYP2C9, CYP2C19, và CYP2D6, làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (20 mg) gấp 2 lần mà không thay đổi về Cmax. Mặc dù các tương tác chuyên biệt chưa được nghiên cứu, một vài chất ức chế enzym protease khác, như saquinavir, và những chất ức chế CYP3A4 khác, như erythromycin, clarithromycin, itraconazole và nước ép quả bưởi khi sử dụng đồng thời với tadalafil cần phải thận trọng vì chúng có thể làm tăng nồng độ của tadalafil trong huyết tương (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Như vậy, tỷ lệ các tác dụng không mong muốn liệt kê trong mục “Tác dụng không mong muốn” cũng có thể tăng. Các chất chuyên chở
Vai trò của các chất chuyên chở (ví dụ như p-glycoprotein) với tadalafil chưa được biết. Do đó có khả
năng tương tác thuốc nếu các chất chuyên chở bị ức chế.
Các chất cảm ứng Cytochrome P450
Một chất cảm ứng CYP3A4, rifampicin, làm giảm diện tích dưới đường cong (AUC) tadalafil tới 88% khi so sánh với giá trị AUC của tadalafil (10 mg) sử dụng đơn độc. Việc giảm diện tích dưới đường cong có thể làm giảm tác dụng của tadalafil, tuy nhiên mức độ giảm chưa được biết trước. Các chất cảm ứng CYP3A4 khác như phenobarbital, phenytoin và carbamazepine cũng có thể làm giảm nồng độ của tadalafil trong huyết tương.
Ảnh hưởng của tadalafil đối với những thuốc khác
Nitrates
Kết quả của các thử nghiệm nghiên cứu lâm sàng cho thấy tadalafil (5 mg, 10 mg và 20 mg) có biểu hiện làm tăng tác động hạ áp của nitrates. Do đó, chống chỉ định sử dụng tadalafil cho bệnh nhân đang dùng bất cứ dạng thuốc nào của nitrate hữu cơ ( xem mục “ Chống chỉ định”). Dựa trên kết quả của một thử nghiệm lâm sàng, trong đó 150 đối tượng được chỉ định dùng liều hằng ngày tadalafil 20 mg trong 7 ngày và 0,4 mg nitroglycerin đặt dưới lưỡi tại các thời điểm khác nhau, sự tương tác thuốc kéo dài trên 24 giờ và không thấy sự tương tác nữa 48 tiếng sau khi uống tadalafil liều cuối cùng. Vì vậy, trong trường hợp bệnh nhân đã sử dụng tadalafil (2,5 mg – 20 mg), và chỉ định nitrate được cho là giải pháp cần thiết trong tình huống đe dọa mạng sống, nên lưu ý là việc sử dụng nitrate cần ít nhất là 48 tiếng sau liều sử dụng tadalafil cuối cùng. Trong những trường hợp như vậy, nitrate chỉ được sử dụng với sự giám sát chặt chẽ bằng các máy thích hợp để theo dõi về huyết động học.
Các thuốc hạ huyết áp (kể cả các thuốc chẹn kênh calci) Việc sử dụng đồng thời doxazosin (4 và 8 mg mỗi ngày) với tadalafil (5 mg mỗi ngày và 20 mg liều đơn) làm tăng tác động hạ huyết áp của chất chẹn alpha này một cách rõ rệt. Tác động này kéo dài ít nhất 12 giờ và có thể có triệu chứng, bao gồm cả ngất xỉu. Vì vậy, không khuyến cáo sự kết hợp này (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Trong các nghiên cứu tương tác thuốc được thực hiện trên một số lượng giới hạn những người tình nguyện khỏe mạnh, những tác động này chưa được báo cáo với alfuzosin hoặc tamsulosin. Tuy nhiên, nên thận trọng khi sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân đang dùng bất cứ thuốc chẹn alpha nào, đặc biệt là với người già. Nên bắt đầu điều trị với liều thấp nhất và điều chỉnh tăng dần. Trong các nghiên cứu thực nghiệm về dược lý lâm sàng, khả năng tadalafil làm tăng tác động hạ huyết áp của các thuốc hạ huyết áp cũng đã được khảo sát. Các nhóm thuốc hạ huyết áp chủ yếu đã được nghiên cứu, bao gồm thuốc ức chế kênh calcium (amlodipine), thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin (ACE) (enalapril), thuốc ức chế thụ thể beta-adrenergic (metoprolol), thuốc lợi tiểu thiazide (bendrofluazide), và ức chế thụ thể angiotensin II (bao gồm các loại và liều khác nhau, dùng đơn độc hay phối hợp với thiazides, ức chế kênh calcium, ức chế thụ thể beta, và/hoặc ức chế thụ thể alpha). Tadalafil (10 mg, ngoại trừ các thử nghiệm với các chất ức chế thụ thể angiotensin II và amlodipine đã sử dụng liều 20 mg) đã không thấy có các tương tác thuốc với biểu hiện lâm sàng rõ rệt đối với bất kỳ loại nào trong nhóm này. Trong nghiên cứu về dược lý lâm sàng khác, tadalafil (20 mg) được nghiên cứu phối hợp với đến 4 nhóm thuốc điều trị cao huyết áp. Ở những đối tượng dùng nhiều loại thuốc hạ huyết áp, sự dao động về huyết áp thoáng qua xuất hiện có liên quan đến mức độ kiểm soát huyết áp. Về mặt này, những đối tượng nghiên cứu có mức huyết áp được kiểm soát tốt, thì tình trạng hạ huyết áp là tối thiểu và tương tự như ở người khỏe mạnh. Ở những đối tượng nghiên cứu mà huyết áp không được kiểm soát tốt, sự hạ huyết áp nhiều hơn, mặc dù vậy sự hạ huyết áp này không kèm theo những triệu chứng hạ huyết áp ở phần lớn đối tượng. Bệnh nhân sử dụng đồng thời tadalafil 20 mg với các loại thuốc hạ huyết áp, có lẽ sẽ có hạ huyết áp, nhưng thường
là giảm ít và không có thay đổi rõ rệt trên lâm sàng (trừ trường hợp dùng chung với chất ức chế alpha – xin đọc phần trên). Phân tích dữ liệu các thử nghiệm lâm sàng ở pha 3 cho thấy không có sự khác nhau về tác dụng ngoại ý ở bệnh nhân dùng tadalafil có kèm hay không các thuốc hạ huyết áp. Tuy nhiên, cần phải có lời khuyên thích hợp cho bệnh nhân về khả năng có thể xảy ra hạ huyết áp khi được điều trị chung với các thuốc hạ huyết áp.
Riociguat
Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy sự tăng tác dụng hạ huyết áp hệ thống khi phối hợp các chất ức chế PDE5 với riociguat. Trong các nghiên cứu lâm sàng, riociguat đã được chứng minh là làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các chất ức chế PDE5. Không có bằng chứng về hiệu quả lâm sàng đáng khích lệ khi phối hợp trong nhóm nghiên cứu. Chống chỉ định phối hợp riociguat với các chất ức chế PDE5, trong đó có tadalafil (xem mục “Chống chỉ định”).
Các cơ chất CYP1A2 (như theophylline)
Trong nghiên cứu dược lý lâm sàng, khi dùng tadalafil 10 mg chung với theophylline (một chất ức chế phosphodiesterase không chọn lọc), không thấy có tương tác về dược động học. Chỉ có một tác động về dược lực học là nhịp tim tăng nhẹ (3,5 nhịp/phút). Mặc dù tác động này không đáng kể và không gây ảnh hưởng rõ rệt trên lâm sàng ở thử nghiệm này, nhưng cũng cần cân nhắc khi sử dụng chung với các thuốc nêu trên.
Ethinylestradiol và terbutaline
Tadalafil đã được chứng minh làm tăng sinh khả dụng của ethinylestradiol dùng đường uống; kết quả cũng tương tự như vậy đối với terbutaline đường uống, mặc dù không chắc có tác động trên lâm sàng.
Rượu
Nồng độ rượu (nồng độ tối đa trung bình trong máu là 0,08%) không bị ảnh hưởng khi sử dụng đồng thời với tadalafil (10 mg và 20 mg). Ngoài ra, không quan sát thấy có thay đổi nào về nồng độ của tadalafil 3 giờ sau khi dùng thuốc đồng thời với rượu. Rượu đã được sử dụng trong thực nghiệm với cách để làm tăng tối đa tốc độ hấp thu rượu (Uống rượu lúc nhịn ăn qua đêm và không ăn trong vòng 2 giờ sau khi uống rượu). Tadalafil (20 mg) không làm tăng thêm mức độ hạ huyết áp trung bình do rượu (uống với lượng 0,7 g/kg hoặc khoảng 180 ml rượu [vodka] 40% ở nam giới nặng 80 kg) nhưng ở một vài đối tượng nghiên cứu, quan sát thấy có chóng mặt tư thế và hạ huyết áp tư thế đứng. Khi sử dụng tadalafil chung với một lượng rượu ít hơn (0,6 g/kg), quan sát thấy không có hạ huyết áp và tỷ lệ chóng mặt xảy ra với tần suất giống như khi đối tượng chỉ có uống rượu. Tác động của rượu đối với chức năng nhận thức không thay đổi khi dùng tadalafil (10 mg).
Các thuốc chuyển hóa bởi Cytochrome P450
Tadalafil không gây ra sự ức chế hay thúc đẩy có ý nghĩa lâm sàng sự thanh thải của các thuốc chuyển hóa bởi các đồng dạng CYP450. Các nghiên cứu đã khẳng định rằng tadalafil không ức chế hay cảm ứng các chất đồng dạng CYP450 như CYP3A4, CYP1A2, CYP2D6, CYP2E1, CYP2C9 và
CYP2C19.
Các cơ chất CYP2C9 (như R-warfarin)
Tadalafil (10 mg và 20 mg) không có tác động có ý nghĩa trên lâm sàng liên quan đến diện tích dưới đường cong (AUC) khi sử dụng chung với S-warfarin hay R-warfarin (cơ chất CYP2C9) cũng như tadalafil không làm thay đổi thời gian prothrombin khi dùng chung với warfarin.
Aspirin

Tadalafil (10 mg và 20 mg) không làm tăng thêm thời gian chảy máu khi dùng chung với acid acetyl salicylic.
Các thuốc điều trị đái tháo đường
Các nghiên cứu cụ thể về tương tác với các thuốc trị bệnh đái tháo đường chưa được thực
hiện.
Tương kỵ
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với thuốc
khác.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
Tóm tắt sơ lược về tính an toàn
Các tác dụng không mong muốn thông thường nhất được báo cáo ở bệnh nhân dùng tadalafil là nhức đầu, chứng khó tiêu, đau lưng và đau cơ và mức độ xảy ra tăng cùng với liều dùng tăng. Các tác dụng không mong muốn được báo cáo thường thoáng qua và nhìn chung là nhẹ hoặc trung bình.
Bảng tóm tắt các tác dụng không mong muốn
Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng không mong muốn được ghi nhận từ các báo cáo tự phát và trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược (bao gồm tổng cộng 8022 bệnh nhân sử dụng tadalafil và 4422 bệnh nhân dùng giả dược) cho điều trị rối loạn cương dương theo nhu cầu và ngày một lần và điều trị u xơ tiền liệt tuyến ngày một lần. Qui ước về tần suất: rất thường gặp (> 1/10), thường gặp (> 1/100 đến < 1/10), ít gặp (> 1/1000 đến < 1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 đến < 1/1.000) và rất hiếm gặp (< 1/10.000) và chưa được ghi nhận (không thể dự đoán từ các dữ liệu hiện có).

RẤT THƯỜNG
GẶP
THƯỜNG GẶP ÍT GẶP HIẾM GẶP
Rối loạn hệ thống miễn dịch
    Các phản ứng quá
mẫn
Phù mạch2
  Đau đầu Chóng mặt Đột quỵ1 (bao gồm hiện
tượng xuất huyết), ngất xỉu,
cơn thiếu máu cục bộ
thoáng qua 1, đau nửa đầu 2,
động kinh, mất trí nhớ, thoáng qua
Rối loạn mắt
    Nhìn mờ, những
cảm giác được mô
tả như đau tại mắt

Khiếm khuyết thị giác, sưng
mí mắt, sung huyết kết mạc,
bệnh lý thần kinh thị giác do
thiếu máu cục bộ vùng trước
không do động mạch
(NAION)2, tắc mạch võng
mạc2

Rối loạn tai và tai trong
    Chứng ù tai Mất thính lực đột ngột
Rối loạn tim1
    Nhịp tim nhanh,
đánh trống ngực
Nhồi máu cơ tim, đau thắt
ngực không ổn định 2, loạn
nhịp thất 2
Rối loạn hệ mạch
  Đỏ mặt Hạ huyết áp 3, Tăng huyết áp  
Rối loạn hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất
  Nghẹt mũi Khó thở, chảy máu
cam
 
Rối loạn hệ tiêu hoá
  Rối loạn hệ
tiêu hoá
Đau bụng, nôn,
buồn nôn, trào
ngược dạ dày thực
quản
 
Rối loạn da và mô dưới da
    Phát ban Chứng mày đay, hội chứng
Stevens – Johnson 2, viêm da tróc vảy 2, tăng tiết mồ hôi
Rối loạn xương, mô liên kết và mô cơ xương
  Đau lưng, chứng đau cơ, đau
các đầu xương
   
Rối loạn thận và tiết niệu
    Đái ra máu  
Rối loạn vú và hệ sinh sản
    Cương cứng
dương vật kéo dài
Chứng cương dương2 chảy máu dương vật, máu trong tinh dịch
Rối loạn chung và tình trạng đường dùng tại chỗ
    Đau ngực 1, phù
ngoại vi, mệt mỏi
Phù mặt 2, ngừng tim đột
ngột 1,2

 

(1) Hầu hết các bệnh nhân đã có các yếu tố nguy cơ tim mạch từ trước (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
(2) Các biến cố bất lợi được báo cáo qua theo dõi hậu mãi không được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng đối chứng giả dược.
(3) Được ghi nhận thường xuyên hơn ở bệnh nhân dùng tadalafil khi đã uống các thuốc hạ huyết áp.

Mô tả các biến cố bất lợi chọn lọc
Sự tăng nhẹ tỉ lệ bất thường về điện tim, nhịp tim chậm xoang nguyên phát, đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với tadalafil ngày một lần so với giả dược. Hầu hết các bất thường về điện tim này không liên quan với các biến cố bất lợi.
Các nhóm dân số đặc biệt khác
Dữ liệu về những bệnh nhân trên 65 tuổi dùng tadalafil ở các thử nghiệm lâm sàng còn hạn chế.
Trong các thử nghiệm lâm sàng với tadalafil dùng theo nhu cầu để điều trị rối loạn cương dương, tiêu chảy đã được báo cáo thường xuyên hơn ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.

QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Những liều đơn đến 500 mg tadalafil đã được thử nghiệm trên người khoẻ mạnh và liều nhiều lần mỗi ngày lên đến 100 mg đã được dùng cho bệnh nhân. Các biến cố bất lợi xảy ra cũng tương tự như những biến cố của các liều thấp hơn. Trong trường hợp quá liều, các biện pháp hỗ trợ tiêu chuẩn cần được thực hiện tùy theo yêu cầu. Thẩm tách máu tác động không đáng kể đến sự thải trừ tadalafil.

ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC
Cơ chế tác dụng
Tadalafil là chất ức chế chọn lọc, có hồi phục phosphodiesterase 5 (PDE5) đặc hiệu guanosine monophosphate vòng (cGMP). Khi kích thích tình dục dẫn đến phóng thích nitric oxide tại chỗ, sự ức chế PDE5 do tác động của tadalafil làm tăng nồng độ cGMP trong thể hang. Kết quả là giãn cơ trơn và làm tăng dòng máu vào trong mô dương vật, từ đó tạo ra cương dương vật. Tadalafil không
có tác dụng khi không có kích thích tình dục.
Tác dụng dược lý học
Các nghiên cứu in vitro cho thấy tadalafil là một chất ức chế chọn lọc của PDE5. PDE5 là một enzym được tìm thấy trong cơ trơn thể hang, cơ trơn mạch máu và nội tạng, cơ xương, tiểu cầu, thận, phổi và tiểu não. Tác động của tadalafil trên PDE5 mạnh hơn trên các phosphodiesterases khác. Tadalafil có tác động trên PDE5 mạnh gấp > 10.000 lần so với PDE1, PDE2 và PDE4, là những enzym tìm thấy trong tim, não, mạch máu, gan và những cơ quan khác. Tác động của tadalafil trên PDE5 mạnh gấp > 10.000 lần so với trên PDE3, là một enzym tìm thấy trong tim và mạch máu. Tính chọn lọc hơn đối với PDE5 so với PDE3 quan trọng vì PDE3 là một enzym liên quan tới sự co bóp cơ tim. Ngoài ra, tadalafil có tác động trên PDE5 mạnh hơn khoảng 700 lần so với PDE6, là một
enzym tìm thấy trên võng mạc và có vai trò tải nạp hình ảnh. Tadalafil có tác động mạnh hơn trên PDE5 gấp >10.000 lần so với các enzym từ PDE7 đến PDE10.
An toàn và hiệu quả lâm sàng Ba công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên 1054 bệnh nhân tại nhà nhằm xác định khoảng thời gian có đáp ứng của tadalafil. Tadalafil đã chứng minh có ý nghĩa thống kê cải thiện chức năng cương và khả năng thành công của cuộc sinh hoạt tình dục cho đến 36 giờ sau khi dùng thuốc, cũng như có khả năng đạt được và duy trì cương sớm lúc 16 phút để giúp giao hợp thành công so với giả dược. Dùng Tadalafil cho người khỏe mạnh, so sánh với giả dược không thấy có khác biệt đáng kể về huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương đo ở tư thế nằm ngửa (trị số tối đa giảm trung bình tương ứng 1,6/0,8 mmHg), khi đo ở tư thế đứng huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương (trị số tối đa giảm trung bình tương ứng 0,2/4,6 mmHg) và không có thay đổi đáng kể trên nhịp tim. Trong một nghiên cứu nhằm khảo sát các tác động của tadalafil trên thị giác, bằng thử nghiệm Farnsworth-Munsell 100 màu sắc, không thấy có rối loạn về phân biệt màu sắc (xanh nước biển/xanh lá cây) được phát hiện. Phát hiện này phù hợp với ái tính thấp của tadalafil đối với PDE6 so với PDE5. Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng, báo cáo về sự thay đổi thị giác về màu sắc rất
hiếm (< 0,1%). Ba nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân nam để đánh giá khả năng ảnh hưởng đến sự sinh tinh của tadalafil 10 mg (một nghiên cứu trong 6 tháng) và 20 mg (một nghiên cứu trong 6 tháng và một trong 9 tháng) với liều uống hàng ngày. Hai trong ba nghiên cứu này cho thấy có giảm lượng và mật độ tinh trùng liên quan tới điều trị tadalafil nhưng không có ý nghĩa lâm sàng. Những tác động này không liên quan tới những thay đổi các thông số khác như vận động học, hình thái học và FSH. Tadalafil với các liều từ 2 đến 100 mg đã được đánh giá trong 16 thử nghiệm lâm sàng trên 3.250 bệnh nhân bao gồm những bệnh nhân có rối loạn cương các mức độ khác nhau (nhẹ, vừa và nặng), nguyên nhân khác nhau, độ tuổi từ 21 đến 86 tuổi và thuộc các dân tộc khác nhau. Đa số bệnh nhân báo cáo có rối loạn cương tối thiểu trong 1 năm. Trong công trình nghiên cứu trên số đông bệnh nhân để đánh giá chủ yếu về hiệu quả này, 81 % bệnh nhân báo cáo rằng tadalafil đã cải thiện chức năng cương so với nhóm sử dụng giả dược chỉ có 35%. Ngoài ra ở những bệnh nhân có rối loạn cương với các mức độ nặng khác nhau đã báo cáo là có cải thiện chức năng khi sử dụng tadalafil (tuần tự là 86%, 83%, và 72% cho các mức độ vừa, trung bình và nặng so với 45%, 42% và 19% ở nhóm sử dụng giả dược). Trong những công trình nghiên cứu chủ yếu về hiệu quả, 75% các cuộc giao hợp thành công khi sử dụng tadalafil so với 32% ở nhóm sử dụng giả dược. Một nghiên cứu 12 tuần thực hiện trên 186 bệnh nhân (142 người dùng tadalafil, 44 người dùng giả dược) có rối loạn cương kèm theo tổn thương tủy sống, tadalafil giúp cải thiện chức năng cương đáng kể mang lại tỉ lệ thành công ở những bệnh nhân điều trị với tadalafil 10 mg hoặc 20 mg (liều điều chỉnh theo nhu cầu) là 48% so với 17% ở nhóm sử dụng giả dược.
Nhóm bệnh nhân nhi
Một nghiên cứu đơn đã được thực hiện ở bệnh nhân nhi mắc chứng loạn dưỡng cơ Duchenne (DMD), trong đó không có bằng chứng về hiệu quả. Nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm chứng giả dược, song song, 3 nhánh của tadalafil được thực hiện ở 331 bé trai tuổi từ 7-14 mắc DMD đang được điều trị đồng thời bằng corticosteroid. Nghiên cứu bao gồm giai đoạn 48 tuần mù đôi, trong đó bệnh nhân được dùng ngẫu nhiên tadalafil 0,3 mg/kg, tadalafil 0,6 mg/kg, hoặc giả dược hàng ngày. Tadalafil không chứng tỏ hiệu quả trong việc làm chậm sự suy giảm khả năng di chuyển được đo bằng kết quả điểm cuối của 6 phút đi bộ (6MWD): thay đổi trung bình ít nhất LS (LS) ở 6MWD ở tuần 48 là -51,0 m ở nhóm dùng giả dược so với -64,7 m ở nhóm tadalafil 0,3 mg/kg (p = 0,307) và -59,1 m ở nhóm tadalafil 0,6 mg/kg (p = 0,538). Ngoài ra, không có bằng chứng về hiệu quả của bất kỳ phân tích thứ cấp nào được thực hiện trong nghiên cứu này. Tổng quan kết quả an toàn từ nghiên cứu này nhìn chung phù hợp với dữ liệu an toàn của tadalafil và các biến cố bất lợi (AEs) đã lường trước ở bệnh nhân nhi mắc DMD đang sử dụng corticosteroid.

Hấp thu
Tadalafil được hấp thu nhanh chóng sau khi uống và nồng độ huyết tương tối đa trung bình (Cmax) đạt được khoảng 2 giờ sau khi uống. Độ sinh khả dụng tuyệt đối của tadalafil dạng uống chưa được xác định.
Tốc độ và mức độ hấp thu của tadalafil không ảnh hưởng bởi thức ăn, do đó tadalafil có thể uống khi chưa ăn hoặc đã ăn. Thời điểm sử dụng thuốc (buổi sáng so với buổi tối) không ảnh hưởng đáng kể trên lâm sàng đối với tốc độ và mức độ hấp thu thuốc.
Phân bố
Thể tích phân bố trung bình của thuốc khoảng 63 L, chứng tỏ tadalafil được phân phối đến các mô. Ở nồng độ điều trị, 94% tadalafil trong huyết tương được gắn kết với protein. Sự gắn kết với protein không bị ảnh hưởng bởi suy chức năng thận.
Dưới 0,0005% liều thuốc sử dụng xuất hiện trong tinh dịch của những người khoẻ mạnh.
Chuyển hoá
Tadalafil được chuyển hóa chủ yếu bởi chất đồng dạng cytochrome P450 (CYP) 3A4. Chất chuyển hóa lưu thông chủ yếu là methylcatechol glucuronide. Chất chuyển hóa này có tác động kém hơn ít nhất 13.000 lần so với tadalafil về tác động trên PDE5. Vì vậy không thấy có các tác động trên lâm sàng ở các nồng độ quan sát được của các chất chuyển hóa.
Thải trừ
Độ thanh thải trung bình khi sử dụng bằng đường uống của tadalafil là 2,5 L/giờ và thời gian bán hủy trung bình là 17,5 giờ trên những người khỏe mạnh. Tadalafil được bài tiết chủ yếu dưới dạng những chất chuyển hóa không tác dụng, chủ yếu trong phân (khoảng 61 % liều thuốc) và với mức độ ít hơn trong nước tiểu (khoảng 36% liều thuốc).
Tuyến tính/Không tuyến tính Dược động học của tadalafil trên những người khỏe mạnh là đường biểu diễn tuyến tính theo thời gian và liều lượng. Khi các liều lượng vượt quá ngưỡng trong khoảng từ 2,5 đến 20 mg, diện tích dưới đường cong (AUC) sẽ tăng tương ứng theo liều lượng. Nồng độ thuốc trong huyết tương đạt ổn định trong vòng 5 ngày khi dùng thuốc mỗi ngày một lần.
Dược động học được xác định trên những bệnh nhân bị rối loạn cương dương cũng tương tự như dược động học trên những người không bị rối loạn cương dương.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người cao tuổi
Những người cao tuổi khoẻ mạnh (65 tuổi hay hơn) có độ thanh thải tadalafil thấp hơn, kết quả là diện tích dưới đường cong (AUC) lớn hơn 25% so với những người khoẻ mạnh tuổi từ 19 đến 45.
Tác động về tuổi này không có tác động đáng kể trên lâm sàng nên không cần phải điều chỉnh liều dùng.
Suy thận
Trong một thử nghiệm lâm sàng về dược học sử dụng liều duy nhất tadalafil (5 đến 20 mg), diện tích dưới đường cong của tadalafil (AUC) gấp đôi trên những người suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinine là 51 đến 80 ml/phút) hay vừa (độ thanh thải creatinine là 31 đến 50 ml/phút) và ở những người suy thận ở giai đoạn cuối thẩm phân phúc mạc. Ở những bệnh nhân đang thẩm tách, Cmax cao hơn 41% so với người khỏe mạnh. Thẩm tách máu tác động không đáng kể đến việc thải trừ tadalafil.
Suy gan
Diện tích dưới đường cong của tadalafil (AUC) ở những bệnh nhân suy gan nhẹ hay vừa (Nhóm A và B của Child-Pugh) tương đương với diện tích dưới đường cong ở những người khoẻ mạnh khi sử dụng liều 10 mg. Các dữ liệu lâm sàng về tính an toàn của tadalafil chưa có nhiều trên bệnh nhân suy gan nặng (Nhóm C của Child-Pugh). Nếu chỉ định tadalafil cho những bệnh nhân này, thầy thuốc cần cân nhắc từng trường hợp giữa lợi ích và nguy cơ để quyết định. Hiện nay chưa có dữ liệu về chỉ định liều tadalafil cao hơn 10 mg cho những bệnh nhân suy gan.
Bệnh nhân đái tháo đường
Diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil ở bệnh nhân đái tháo đường thấp hơn khoảng 19% so với diện tích dưới đường cong của người bình thường khoẻ mạnh. Tuy vậy sự khác biệt này không cần phải điều chỉnh liều dùng.
Các dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Các dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy rằng không có nguy hại nào cho người dựa trên các nghiên cứu theo quy ước về an toàn dược, độc tính liều lặp đi lặp lại, độc hại trên gen, khả năng gây ung thư, và độc tính trên hệ sinh sản.
Không có bằng chứng về tính sinh quái thai, độc trên phôi hay độc trên bào thai ở chuột nhắt và chuột cống với liều lên tới 1000 mg/kg/ngày. Trong một công trình nghiên cứu về phát triển trước và sau khi sinh của chuột nhắt, liều tác động không gây hậu quả là 30 mg/kg/ngày. Đối với chuột có thai, diện tích dưới đường cong cho thuốc tự do tại liều này là khoảng 18 lần so với diện tích dưới đường cong của người ở liều 20 mg.
Không thấy có rối loạn về khả năng sinh sản ở chuột nhắt đực và cái. Ở chó sử dụng liều tadalafil mỗi ngày từ 6 đến 12 tháng với liều 25 mg/kg/ngày (ở liều này, diện tích dưới đường cong lớn gấp 3 lần [dao động trong khoảng từ 3,7-18,6] so với người dùng liều duy nhất 20 mg) hay cao hơn, có sự suy thoái nội mạc ống sinh tinh của tinh hoàn đưa đến thiểu tinh ở một vài con chó.

QUY CÁCH ĐÓNG GÓI: Hộp 1 vỉ x 2 viên, Hộp 2 vỉ x 2 viên, Hộp 1 vỉ x 4 viên, Hộp 2 vỉ x 4 viên.
BẢO QUẢN: Nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ dưới 30oC, tránh ánh sáng.
HẠN SỬ DỤNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG: TCCS.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Leave A Review

Your rating *

No products in the cart.