CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu: Ceftibuten dạng viên nang được hấp thu nhanh sau khi uống các thông số dược động học của Ceftibuten liều đơn 400 mg cho 12 tình nguyện viên khỏe mạnh (tuổi từ 20-39) được tính trong bảng sau.
| Thông số |
Nồng độ trung bình trong huyết tương (μg/ml) ceftibuten sau khi dùng liều 400mg) và các thông số dược động học (n=12 nam giới khoẻ mạnh) |
| 1h |
6,1 (5,1) |
| 1,5h |
9,9 (5,9) |
| 2h |
11,3 (5,2) |
| 3h |
13,3 (3,0) |
| 4h |
11,2 (2,9) |
| 6h |
5,9 (1,6) |
| 8h |
3,2 (1,0) |
| 12h |
1,1 (0,4) |
| Cmax µg/ml |
15,0 (3,3) |
| Tmax, H |
2,6 (0,9) |
| AUC µg,h/ml |
73,7 (16,0) |
| T1/2 ,g |
2,4 (0,2) |
| Tổng thanh thải cơ thể (CI/F) ml/min/kg |
1,3 (0,3) |
Khi được dùng 1 lần/ngày trong 7 ngày, nồng độ Cmax trung bình trong ngày thứ 7 là 17,9ug/ml, Nồng độ Ceftibuten trong huyết tương vào khoảng 20% trong trạng thái ổn định.
Phân bố:
Viên nang:
Thể tích phân bố biểu kiến trung bình (V/F) của ceftibuten ở 6 người trưởng thành là 0,21 L/kg (+1 SD=0,03 L/kg).
Hỗn dịch: Thể tích phân bố biểu kiến trung bình (V/F) của ceftibuten ở 32 bệnh nhân nhi lúc đói
là 0,5 L/kg (+ 1SD =0,2 L/kg).
Ceftibuten liên kết với 65% protein huyết tương. Liên kết protein độc lập với nồng độ ceftibuten huyết tương.
Phân bố trong các mô tế bào.
-Dịch tiết phế quản
Trong một nghiên cứu trên 15 người lớn sử dụng liều đơn ceftibuten 400 mg và có lịch nội soi phế quản, nồng độ trung bình trong dịch biểu mô và niêm mạc phế quản tương ứng là 15% và 37% so với nồng độ trong huyết tương.
-Trong đờm
Nồng độ ceftibuten trong đờm trung bình xấp xỉ 7% nồng độ ceftibuten trong huyết tương. Trong một nghiên cứu trên 24 người lớn được sử dụng ceftibuten 200 mg hai lần mỗi ngày hoặc 400 mg 1 lần mỗi ngày, Cmax trung bình trong đờm (1,5 kg /mL) đạt được sau khi uống 2 giờ và Cmax trung bình trong huyết tương (17 ug /mL) đạt được sau khi uống 2 giờ.
Trong một nghiên cứu trên 12 bệnh nhi được dùng ceftibuten liều 9 mg /kg, diện tích dưới đường cong trong MEF (AUC) trung bình khoảng 70% AUC huyết tương. Trong cùng một nghiên cứu, giá trị Cmax trong MEF là 14,3 ± 2,7 ug /mL đạt được sau khi uống 4 giờ và 14,5 ± 3,7 ug /mL trong huyết tương 2 giờ sau khi uống.
-Trong amiđan
Dữ liệu về sự phân bố của ceftibuten vào mô amiđan chưa có.
-Dịch não tủy
Dữ liệu về sự phân bố của ceftibuten vào dịch não tủy chưa có. Ảnh hưởng của thức ăn đối với sự hấp thụ
Thức ăn ảnh hưởng đến sinh khả dụng của ceftibuten.
Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh khả dụng của Viên nang Ceftibuten đã được đánh giá ở 26 người tình nguyện là nam giới trưởng thành khỏe mạnh, uống 400 mg Viên nang Ceftibuten M trước khi ăn sáng hoặc ngay sau khi ăn sáng. Kết quả cho thấy thức ăn làm chậm Cmax đi 1,75 giờ, làm giảm Cmax xuống 18%, và giảm 8% mức độ hấp thụ (AUC).huyết tương. Chuyển hóa và thải trừ: Một nghiên cứu với ceftibuten được đánh dấu phóng xạ cho 6 tình nguyện viên nam trưởng thành đã chứng minh rằng cis–ceftibuten là thành phần chiếm ưu thế trong cả huyết tương và nước tiểu. Khoảng 10% của ceftibuten được chuyển đổi sang tran- isomer. Tran–isomer có khả năng kháng khuẩn bằng 1/8 cis–isomer.
Ceftibuten được bài tiết qua nước tiểu, 95% liều phóng xạ đã được tìm thấy trong nước tiểu hoặc phân. Trong 6 tình nguyện viên nam trưởng thành và khỏe mạnh, khoảng 56% liều dùng đã được thải trừ qua nước tiểu và 39% trong phân trong vòng 24 giờ. Thuốc chủ yếu được bài tiết qua thận do đó bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận hoặc chạy thận nhân tạo cần được điều chỉnh liều.
Đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Dược động học của ceftibuten đã được nghiên cứu ở người cao tuổi (65 tuổi trở lên). Mỗi tình nguyện viên được uống ceftibuten viên nang 200 mg x 2 lần/ngày trong 3,5 ngày. Cmax trung bình là 17,5 (3,7) ug/ml sau 3,5 ngày dùng thuốc so với 12,9 (2,1) ug/ml sau liều đầu tiên. Tích lũy ceftibuten trong huyết tương là khoảng 40% ở trạng thái ổn định. Chưa có thông tin về chức năng thận ở những người này, do đó kết quả của nghiên cứu chưa có ý nghĩa lâm sàng ở người cao tuổi. Có thể cần điểu chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân suy thận
Dược động học của ceftibuten đã được nghiên cứu ở bệnh nhân người trưởng thành bị suy thận. Thời gian bán thải trong huyết tương của ceftibuten tăng lên và độ thanh thải toàn phần (CI / F) giảm tương ứng với mức độ suy thận ngày càng tăng. Ở 6 bệnh nhân suy thận mức độ trung bình (độ thanh thải creatinin từ 30 đến 49 mL / phút), thời gian bán thải trong huyết tương của ceftibuten tăng lên 7,1 giờ và CI / F giảm xuống 30 mL / phút. Ở 6 bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 5 đến 29 mL / phút), thời gian bán thải tăng lên 13,4 giờ và CI / F giảm xuống 16 mL / phút. Ở 6 bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin <5 mL / phút), thời gian bán thải tăng lên 22,3 giờ và CI / F giảm xuống 110 mL / phút (thay đổi từ 7 đến 8 lần so với người tình nguyện khỏe mạnh). Thẩm phân máu loại bỏ 65% lượng thuốc khỏi máu trong 2 đến 4 giờ.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.